Thứ Ba, Tháng Sáu 15, 2021
Home Bài của bạn ANH ĐÃ YÊU NHƯ VẬY - BÀI THƠ TÌNH NHIỀU XÚC ĐỘNG

ANH ĐÃ YÊU NHƯ VẬY – BÀI THƠ TÌNH NHIỀU XÚC ĐỘNG

Trần Huyền Nhung và Nt Nguyễn Trọng Tạo
Trần Huyền Nhung và Nt Nguyễn Trọng Tạo

TRẦN HUYỀN NHUNG

ANH ĐÃ YÊU NHƯ VẬY

(Tặng các chiến sĩ trên đảo xa)

Chẳng lẽ anh yêu đất cằn và đá cỗi
nắng cháy da và rét buốt xương
gió xé rách áo quần
mưa ném nghiêng mũ cối
chẳng lẽ anh yêu sóng biển gào dữ dội
át cả tiếng em từ phía đất liền?

Công sự anh đào xuyên ngày, xuyên đêm
đào vào đá (lưỡi xẻng thay mấy bận)
những cánh tay kéo pháo hai ba tấn
lên điểm cao, dốc dựng lệch trời xanh
chẳng lẽ anh yêu đá cào tướp bàn chân
dày cao cổ rách rồi, tay con trai lại vá?

Sống giữa biển mà lắm khi thèm cá
luống rau trồng trong lưới ngăn chim
nước biển nhiều mà chẳng thể nấu cơm
(phuy nước ngọt để dành khi giặc giã)
chẳng lẽ anh yêu đêm liên hoan văn nghệ
có chàng trai sắm vai gái diễn chèo?

Chẳng lẽ anh yêu những đêm ngủ hầm kèo
báo đến chậm hai tuần vẫn gọi là “báo mới”
lá thư tình đọc chung cùng đồng đội
lúc nghe đài là lúc gặp quê hương
chẳng lẽ anh yêu những ngày tháng thẳng căng
đêm bật dậy mấy lần báo động?

Nhưng em ơi, giữa muôn trùng biển sóng
anh đã yêu như vậy ngày ngày
như yêu em đắm say
yêu giấc ngủ hằng mơ về bờ cát
bởi anh biết:
nếu lòng mình đổi khác
giặc sẽ tràn qua đảo của mình đây!…

Đảo Vạn Hoa, 1980
NGUYỄN TRỌNG TẠO

Lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử chống xâm lăng. Ông cha ta đã mất đi và còn truyền lại cho con cháu thanh gươm báu in đậm dấu ấn của lịch sử oai hùng đó. Con người Việt Nam chúng ta đã trân trọng cầm thanh gươm ấy để anh dũng chống lại mọi thế lực hung bạo giành lại quyền sống cho dân tộc mình. Từ trong đêm đen “điêu tàn” của khổ đau, con người Việt Nam luôn luôn vươn tới, rũ bùn để đến với ngày mai chói lòa tươi đẹp. Hình ảnh con người Việt Nam với sức sống mãnh liệt tuyệt vời ấy đã được văn học phản ánh khá rõ nét và sáng tạo. Bài thơ “Anh đã yêu như vậy” của Nguyễn Trọng Tạo không chỉ nói lên nghị lực sống của con người, mà trong đó còn là một tình yêu em thủy chung, son sắt. Toàn bộ bài thơ toát lên hình ảnh đẹp của anh trong lời đặt giả thiết “chẳng lẽ anh yêu”, để rồi nhà thơ khẳng định được tình yêu vĩnh hằng cao đẹp dù là thời chiến hay thời bình.

“Anh đã yêu như vậy” như một nguồn nước giếng trong, khơi mãi vẫn không hết cái ngọt ngào sâu lắng của tình yêu con người, vẫn không vơi cạn nguồn sức mạnh truyền vào cuộc sống. Tình yêu trong thơ Nguyễn Trọng Tạo luôn luôn là sự thôi thúc nỗ lực tìm hiểu khám phá của người đọc. Ở trong “Anh đã yêu như vậy”, tác giả dẫn người đọc vào mạch khám phá qua sáu lần lời đặt nghi vấn “chẳng lẽ anh yêu”. Tựa đề bài thơ “Anh đã yêu như vậy” trả lời cho thể nghi vấn mà Nguyễn Trọng Tạo đưa ra. Có thể bao bạn đọc khác cũng như tôi đều phải tò mò, khám phá “Anh đã yêu như vậy” là yêu như thế nào? Cũng chính vì đi tìm câu trả lời cho mình mà bài thơ của Nguyễn Trọng Tạo đã gây ấn tượng mạnh trong tôi. Trước hết, tôi cảm động vô bờ trước tình cảm Nguyễn Trọng Tạo giành cho các anh chiến sĩ trên đảo xa. Bài thơ không chỉ là tiếng lòng riêng của Nguyễn Trọng Tạo, mà còn là tiếng nói chung cho tất cả các anh lính đang canh giữ ngoài biên cương, hải đảo xa xôi. Sau là, tôi xúc động: Chẳng lẽ Nguyễn Trọng Tạo lại yêu từ những cái khó khăn, đói khát, khổ sở nhất… đó là những rào cản để tôi luyện tinh thần trong mỗi anh lính? Xét cho cùng, không yêu thì cũng phải yêu thôi, bởi không có sự lựa chọn nào khác. Tình yêu và bản lĩnh của người lính đã lên ngôi, không gì có thể làm lung lay ý chí của họ được.

Nếu như thơ dân gian chuộng vẻ đẹp chân chất, mộc mạc, những nét phác họa nhẹ nhàng về sinh hoạt, tâm tư người lao động, thì “Anh đã yêu như vậy” cũng bình dị như là lời nói chuyện tự nhiên của Nguyễn Trọng Tạo. Nếu để ý sẽ thấy, nhà thơ không hề muốn tìm kiếm những điều mới lạ trong bài thơ. Tác giả chỉ thuật lại cùng ta những gì đã nghe, đã thấy một cách giản dị, chân tình. Có thể qua những điều từng trải, Nguyễn Trọng Tạo đã nhìn thấy cả quá trình rèn luyện và chiến đấu gian khổ của người lính. Những giọt mồ hôi thầm lặng trên vai áo của những anh lính đã thấm mệt nhọc, gian nan, thế mà vẫn toát lên trong tâm hồn họ tình yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu người tha thiết. Nguyễn Trọng Tạo thấu hiểu một cách sâu sắc. Chẳng lẽ anh yêu như vậy sao :

Chẳng lẽ anh yêu đất cằn và đá cỗi
nắng cháy da và rét buốt xương
gió xé rách áo quần
mưa ném nghiêng mũ cối
chẳng lẽ anh yêu sóng biển gào dữ dội
át cả tiếng em từ phía đất liền?

Lời thơ mộc mạc, giản dị trên hình thức mà sâu thăm thẳm tính nhân văn của người cầm bút. Đúng như lời của Bác “Văn nghệ cũng là một mặt trận. Anh chị em là những người chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Ở đây, Nguyễn Trọng Tạo xứng đáng là một người chiến sĩ, bởi tôi cảm nhận được tiếng lòng đồng cảm của nhà thơ trên mặt trận của những anh lính. Lời giả thiết “Chẳng lẽ anh yêu” như là sự giải thích về hoàn cảnh gian khổ vô cùng của người lính. Con người Việt Nam ngay từ lúc sinh ra phải đương đầu với bao thế lực hung hãn: nào hạn hán, lũ lụt, nào thú dữ… gian khó, nguy nan, bao phen tưởng dân tộc này không thể tồn tại được. Nhưng, lạ thay, con người Việt Nam ấy lại là những con người chứa đựng một sức sống mãnh liệt chưa từng thấy. Dường như, những anh lính càng gặp bao khó khăn, gian khổ thì tình yêu dân tộc trong họ càng tỏa sáng. Nguyễn Trọng Tạo còn ngờ  vực ngay cả chính lòng mình. Những khó khăn gian khổ ở một nơi hải đảo: Đất cằn và đá cỗi, thời tiết thì thất thường “nắng cháy da và rét buốt xương”, những cơn cuồng phong dữ dội làm rách áo quần, mưa làm quăng cả “mũ cối”, sóng biển thì mạnh ghê gớm… Tất cả những điều đó “chẳng lẽ anh yêu” sao? Sóng biển còn “dữ dội” làm anh chẳng thể nghe được tiếng em ở phía “đất liền”.  Còn chưa kể đến nỗi khổ khó khăn, thiếu thốn về vật chất… Khổ thơ tiếp theo, Nguyễn Trọng Tạo đã làm tôi nhỏ những giọt nước mắt trên bàn phím:

Công sự anh đào xuyên ngày, xuyên đêm
đào vào đá (lưỡi xẻng thay mấy bận)
những cánh tay kéo pháo hai ba tấn
lên điểm cao, dốc dựng lệch trời xanh
chẳng lẽ anh yêu đá cào tướp bàn chân
dày cao cổ rách rồi, tay con trai lại vá?

Những hình ảnh về công việc ngày đêm của anh lính được Nguyễn Trọng Tạo khắc họa rất đẹp chẳng khác nào trái tim có ánh sáng soi đường cho mọi người hướng tới. Sự gian khổ của họ biết bao nhiêu những lời thơ, biết bao nhiêu tấm lòng của các nhà thơ, nhà văn không thể nào có thể ghi lại hết được.

Và con người thật là kỳ diệu biết bao, từ gian khổ họ vẫn vươn lên tươi đẹp và cao thượng. Họ sẵn sàng chịu đựng gian khổ “nhạt muối với cơm” nhưng “miệng vẫn cười” nụ cười chiến thắng. Ta dễ hiểu vì sao 19 con người trong hang Hòn (Hòn Đất- Anh Đức) đã từng chịu đựng và vượt qua gian khổ như những vần thơ của Nguyễn Trọng Tạo. Từ đây, tôi cũng dễ hiểu vì sao những chiến sĩ trên đảo Cồn Cỏ (Họ sống và chiến đấu– Nguyễn Khải), lại là những con người thép, trụ đảo, bảo vệ mảnh đất của Tổ quốc thân yêu. Vượt lên khó khăn để tồn tại và chiến thắng kẻ thù đó là nét nổi bật của những người chiến sĩ trung kiên ấy. “Công sự anh đào xuyên ngày, xuyên đêm”- cũng đủ cho ta thấy tình yêu đất nước trong anh lính xả thân, quên mình. Ấy thế mà “chẳng lẽ anh yêu” đá cào tướp bàn chân? rồi những khó khăn về vật chất “dày cao cổ rách rồi, tay con trai lại vá”? Phải là người hiểu rõ nỗi khổ của những anh lính hải đảo thì Nguyễn Trọng Tạo mới viết lên được những vần thơ cảm động như thế! Phải đi sâu cuộc sống của anh lính thì Nguyễn Trọng Tạo mới đồng cảm được:

Sống giữa biển mà lắm khi thèm cá
luống rau trồng trong lưới ngăn chim
nước biển nhiều mà chẳng thể nấu cơm
(phuy nước ngọt để dành khi giặc giã)
chẳng lẽ anh yêu đêm liên hoan văn nghệ
có chàng trai sắm vai gái diễn chèo?

Nguyễn Trọng Tạo đã thu vào cái bao la của biển, cái vô vàn của đất trời thiên nhiên để nhận về nỗi khổ thiếu thốn, thèm khát miếng ăn ngay giữa mênh mông biển trời. Điều đó chứng tỏ rằng thiên nhiên không hề ưu đãi đối với những người lính nơi hải đảo xa xôi. “Sống giữa biển mà lắm khi thèm cá”, rồi “luống rau trồng” cũng sợ chim ăn, “nước biển nhiều mà chẳng thể nấu cơm”… Thế mà cuộc sống của các anh lính không hề buồn tẻ, họ vẫn tạo cho mình một sân chơi văn nghệ, dù rằng: “Có chàng trai sắm vai gái diễn chèo”. Chẳng lẽ anh yêu tất cả những sự thiếu thốn đó sao? Phải chăng đó chính là biểu hiện rất đẹp của tình yêu Tổ quốc, của lòng yêu đời tha thiết trong mỗi anh lính.

Mắt chúng ta muốn đọc, đọc mãi những dòng thơ tươi xanh, những dòng thơ lửa cháy của Nguyễn Trọng Tạo với “Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa”. Tiếng ca lạc quan ấy vẫn vút lên từ hiện thực cuộc sống chiến đấu và xây dựng, vẫn vút lên tự trái tim của những anh lính thời chiến hay thời bình mang trong mình bầu máu nóng nhiệt tình không bao giờ nguôi cạn. Là đối tượng của văn học, hình ảnh những anh lính hải đảo được Nguyễn Trọng Tạo xây dựng với sức sống mãnh liệt rất đẹp, nhưng họ cũng từ tác phẩm bước ra ngoài đời thúc giục mọi người, có tác dụng thật sâu rộng đến trái tim quần chúng, đến trái tim người đọc. Như vậy Nguyễn Trọng Tạo đã làm tròn chức năng của văn học. Nói như thủ tướng Phạm Văn Đồng thì văn học của chúng ta xứng đáng là “một công cụ để khám phá, hiểu biết và sáng tạo thực tại xã hội, chủ yếu là con người và cuộc chiến đấu của con người”. “Chẳng lẽ anh yêu” tiếp tục được lặp lại:

Chẳng lẽ anh yêu những đêm ngủ hầm kèo
báo đến chậm hai tuần vẫn gọi là “báo mới”
lá thư tình đọc chung cùng đồng đội
lúc nghe đài là lúc gặp quê hương
chẳng lẽ anh yêu những ngày tháng thẳng căng
đêm bật dậy mấy lần báo động?

Càng đọc những dòng thơ, ta càng thấu hiểu được cuộc sống “đồng cam cộng khổ” của những anh lính. Đêm đêm họ phải ngủ dưới “hầm kèo”, thông tin về tới hải đảo thì chậm trễ. Họ sẵn sàng sẻ chia tình cảm qua “lá thư tình” trong lúc ai ai cũng đang sống trong cảnh thiếu thốn tình cảm từ gia đình, quê hương, người yêu…Phương tiện để họ gặp được quê hương mình chính là cái “đài”. Trong tôi rung lên những tần số của sự xúc động khi tìm thấy trong vần thơ của Nguyễn Trọng Tạo một phần sự đồng cảm của tôi gửi đến các anh lính. Những ngày tháng căng thẳng của họ, đêm thì “bật dậy mấy lần báo động” cho thấy ngay cả giấc ngủ của các anh cũng không được trọn vẹn. Đã ngủ “hầm kèo”, lại còn phải ngủ gà, ngủ gật, lo lắng nơm nớp về sứ mệnh gìn giữ và bảo vệ Tổ quốc. Chẳng lẽ anh yêu những ngày tháng thẳng căng như vậy sao?

Đã qua rồi thuở bài thơ “Thần” của Lý Thường Kiệt(?) sang sảng vang lên trên trận tuyến sông Như Nguyệt. Đã qua rồi cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ gian khổ, hy sinh anh hùng, dũng cảm… Nhưng ngày nay, với những anh lính Hải đảo, Nguyễn Trọng Tạo đã kịp thời vẽ lên chân dung họ như những bản tình ca muôn thuở. Tình yêu riêng, chung trong họ đã cất lên đôi cánh thiên thần bay cao, bay xa trong mọi thời đại. Bài thơ “Anh đã yêu như vậy” với lối kết thúc khẳng định, đã vẽ nên chân dung tình yêu cao đẹp của những anh lính Hải đảo:

Nhưng em ơi, giữa muôn trùng biển sóng
anh đã yêu như vậy ngày ngày
như yêu em đắm say
yêu giấc ngủ hằng mơ về bờ cát
bởi anh biết:
nếu lòng mình đổi khác
giặc sẽ tràn qua đảo của mình đây!…

Nếu như ở trên Nguyễn Trọng Tạo đặt ra sáu câu nghi vấn “chẳng lẽ anh yêu” và kèm theo những lời giải thích cùng với dẫn chứng trong quá trình lao động gian khổ miệt mài của các anh lính, thì bài thơ được khép lại giữ thế khẳng định “Anh đã yêu như vậy ngày ngày”. Tình yêu đất nước được đặt ngang với tình yêu “Em” đắm say, da diết. Đó là sự kết nối ôn hòa giữa hậu phương và tiền tuyến mà các anh lính tự đặt ra cho mình. Lối kết thúc của Nguyễn Trọng Tạo đọng lại trong lòng người đọc một cách chắc chắn về tình yêu, không còn nghi hoặc: chẳng lẽ anh yêu hay không yêu nữa. Người đọc cũng phải công nhận rằng: Anh đã yêu… và còn “yêu như vậy ngày ngày”. Bởi Nguyễn Trọng Tạo đã xác định rõ ràng giữa tình yêu Tổ quốc và tình yêu “Em”, không thể thiên về bên nào được. Tôi nhận thấy hai tình yêu đã hòa làm một, tạo thành một nền tảng vững chắc trong tình cảm của các anh lính hải đảo. Lối so sánh “như yêu em đắm say” chẳng qua cũng chỉ làm nổi bật con người, phẩm chất của người lính trong mọi thời đại. Ngày đêm họ phải canh giữ đất trời, nếu không có tình yêu Tổ quốc thấm đẫm vào máu thịt, thì sao họ hy sinh được như thế. Đó là sự hy sinh thầm lặng lớn lao rất đáng được trân trọng. Lòng người lính không thể đổi thay vì sứ mệnh được giao, vì “nếu lòng mình đổi khác/ giặc sẽ tràn qua đảo của mình đây!…”.  Phải chăng Nguyễn Trọng Tạo từ một thời điểm vô hạn đã thấm thía cái giá phải trả cho Độc lập- Tự do, đã muốn tôn cao hơn vẻ đẹp của những hy sinh cao cả, vẻ đẹp của một thế hệ trẻ Việt Nam.

Đọc và tìm hiểu “Anh đã yêu như vậy” của Nguyễn Trọng Tạo, ta muôn ngàn lần cảm ơn tác giả bài thơ đã cho người đọc hiểu rõ về bức chân dung của người lính nơi biên cương hải đảo.

Sài Gòn, 12h, ngày 18/6/2011

RELATED ARTICLES

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

BỐ VÀ CON

NGUYỄN TRỌNG TẠO Tặng con và bố Tú Con gọi nồng nàn tiếng bố Bố cưng gái rượu yêu kiều  Rồi con thành bà nội ngoại Bố mãi gọi...

KHI XÃ HỘI XUỐNG CẤP, NHÀ THƠ – NGƯỜI Ở ĐÂU?

NGUYỄN TRỌNG TẠO (Nguyễn Đức Tùng thực hiện) Nguyễn Đức Tùng: Rất vui được trò chuyện với anh Nguyễn Trọng Tạo, chàng thi sĩ lãng mạn...

1 COMMENT

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -

Most Popular

SINH NHẬT MÙA THU

NGUYỄN TRỌNG TẠO SINH NHẬT MÙA THU Tặng Em Ai giấu trong màu thu Bông cúc xanh tháng bảy Nhìn cánh hoa anh thấy Thu về cùng gió xanh Ai giấu...

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

BỐ VÀ CON

NGUYỄN TRỌNG TẠO Tặng con và bố Tú Con gọi nồng nàn tiếng bố Bố cưng gái rượu yêu kiều  Rồi con thành bà nội ngoại Bố mãi gọi...

KHI XÃ HỘI XUỐNG CẤP, NHÀ THƠ – NGƯỜI Ở ĐÂU?

NGUYỄN TRỌNG TẠO (Nguyễn Đức Tùng thực hiện) Nguyễn Đức Tùng: Rất vui được trò chuyện với anh Nguyễn Trọng Tạo, chàng thi sĩ lãng mạn...

Recent Comments

loctran on THỜI MẠT
Đào Nguyên Lan on THƠ NGUYỄN NGỌC VƯỢNG
tamnguyenxuan55gmail.com on 3 TẢN VĂN CỦA ĐẬU THỊ THƯƠNG
Vương on ĐẤT NƯỚC TÔI
Nguyễn Hoàng Sơn on NHÀ THƠ NGUYỄN DUY VỀ LÀNG
tu sinh on BA THẰNG BẠN
Nguyễn Thanh Cừ on TỔNG THỐNG
Trần Anh Dũng on THƠ ĐẶNG LƯU SAN
Nguyễn Ngọc Phong on “SUY NGẪM” CỦA LÊ THANH DŨNG
Hoàng Trí on NGỤM CHÁO LÚ
Trâu Hà Tĩnh on BA CÂU HỎI CHO HOÀNG HƯNG
sonnghithu@gmail.com on NGƯỜI VỀ TRƯỜNG SA
phamducquy on THƠ VÕ THANH AN
trần vũ long on THƠ VÕ THANH AN
Nguyễn Trường Sơn on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
TRẦN NHUỆ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Nguyễn Thanh Cừ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Lê Kinh Thắng - Tham tán Thương mại tại Nam Phi on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Lê Anh Phong - TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Nguyễn Thị Bích Lài - Đồng hương của hai người hiện ở TP. Pleiku - tỉnh Gialai – Pleiku. on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Phạm Đông on VĂN TẾ CÂY HÀ NỘI
Nguyễn Thanh Cừ on ĐỐI THOẠI VỚI LÝ QUANG DIỆU
Nguyễn Thanh Cừ on XIN ĐỪNG ĐỤNG VÀO CÂY…
Người lái đò on ĐANG SỐNG MÀ ĐÃ BẢO TÀNG…
Phan Thai Duc Hieu on THÂN PHỤ TÔI
THUYTANTHUYTRUONG on TUYẾT NGA
jamesnguyen on CON TUYẾT
jamesnguyen on KIẾP HÀI NHI
Khanh nguyen on NẾU NHƯ KHÔNG… NẾU
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Pham Tien Cat on NGUYỄN HOA VÀ THƠ
Anh Nguyên on CÁI ĐINH ỐC
Nguyễn Thanh Cừ (Hà Nội) on NGUYỄN TRỌNG TẠO HAY ÔNG “ĐỦ MÓN, 5 SAY”
phạm Dũng on SUY NGHĨ VỀ HÒA HỢP
Nguyễn Thị Long on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
nguyễn thị thanh minh on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on VĨNH BIỆT NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG SÁNG
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on KHÚC HÁT SÔNG QUÊ – BÀI CA CỦA MỌI NGƯỜI
Lâm Bích Thủy on THƠ VALENTINE 2014
Anh Nguyên on THƠ VALENTINE 2014
Pham Tuấn Thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguyễn Tiến Dũng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Phạm Trường Thi on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phạm tuấn thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguoi mien nui on QUYẾT LIỆT LÀ… TAN VỠ
Nguyễn Mộng Nhưng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phó thường dân on NGUY CƠ TỪ TRUNG QUỐC
thời đại khoa học on GẶP TƯỚNG GIÁP VÀ NGẪM VỀ NGƯỜI
Nỗi buồn hoa phượng on TRUYỆN CỰC NGẮN: BIẾU SÁCH
Gloomy 1721979 on KINH SÁCH CỦA NƯỚC VỆ
Dân gian: "Nhà văn nói láo, nhà báo nói phét" on NƯỚC ICELAND KÍNH TRỌNG NHẤT NGHỀ VIẾT VĂN
Hoạ sĩ Trần Thị Bích Huệ on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Huỳnh Văn Úc on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Van Duc on HOA MẠC TRẮNG
nguyễncamgiang@yahoo.com.vn on NHỮNG CÁI CHẾT TỨC TƯỞI CỦA NHÀ VĂN
Danh Hiếu on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Nhan Van on HỒI KÝ CA SĨ
Bà Ngoại on HỒI KÝ CA SĨ
Văn Nhân. on HỒI KÝ CA SĨ
Dungquy on HỒI KÝ CA SĨ
Người nhà quê on SUY NGẪM CỦA LÊ THANH DŨNG
nguyenvan on TÔI YÊU VIỆT NAM
Thanh Minh on TÔI YÊU VIỆT NAM
Hoàng Lãng Thụy on INRASARA BÌNH BÀI THƠ “CHIA”
Đỗ Cảnh Thìn on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
ANH NGUYỄN on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Nguyễn thanh Hà on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Thanh nien nghiem tuc on ĐẶNG HUY VĂN DẶN PHƯƠNG UYÊN
Hà quang Minh on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Trọng Hoàng on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Văn Nhân. on HỌC LÀM QUAN
vũ thảo on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on HỌC LÀM QUAN
Nguoi lam thue on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
nguyenvan on HỌC LÀM QUAN
GÀ QUÊ on HỌC LÀM QUAN
montaukmosquito on HỌC LÀM QUAN
Phạm Lưu Vũ on KHÔNG ĐỀ 72
Hạnh Nhung on KHÔNG ĐỀ 72
dinhqn on KHÔNG ĐỀ 72
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Khánh Minh on KHÔNG ĐỀ 72
Nhị Mai on KHÔNG ĐỀ 72
Bá Tiến on TUYẾT NGA
Thanh Minh on TUYẾT NGA
HOÀNG TRƯỜNG SA on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Gloomy 1721979 on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Thập tứ đại ngu. on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
mai thanh sơn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Hồ Muôn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
ANH NGUYỄN on LƯU MANH KẺ CHỢ
ANH NGUYỄN on CHÙM THƠ BIỂN
Thanh Minh on LƯU MANH KẺ CHỢ
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Vũ Xuân Tửu on LƯU MANH KẺ CHỢ
luong thien on LƯU MANH KẺ CHỢ
nguyenvan on LƯU MANH KẺ CHỢ
Phan Thế Thủy on LƯU MANH KẺ CHỢ
T. A. T on THÂN PHỤ TÔI
Lê văn Minh on THÂN PHỤ TÔI
Tô Lê Sơn on THÂN PHỤ TÔI
ANH NGUYỄN on SẮC DỤC
Đỗ Duy Văn on THÂN PHỤ TÔI
Lưu Đinh Anh on SẮC DỤC
hao hao on THÂN PHỤ TÔI
nguyenvan on 23 TẦNG NGƯỜI
Văn Trường Lưu on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Hoàng Văn Hoan on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Trần Thị Bích Huệ on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
nguyen van lung on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Ngô Văn Hải on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Phan Huy Vũ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Trần Thị Bích Huệ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Nguyễn Hữu Đức on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
Nguyễn Thị Chinh on VĂN CAO: TRƯƠNG CHI LÀ TÔI ĐẤY
Nguyen Van Nam on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
Thanh Minh on GIA PHONG XỨ NGHỆ
NGUYỄN VĂN ĐOÀN on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
LÒ LÃO NÔNG/NGUYỄN ĐỨC TOAN on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
(Vẫn là) Cháu ngoan Bác Hồ. on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
nguyễn văn Đức on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người nhà quê on GIA PHONG XỨ NGHỆ
Nguyễn Đắc Vinh on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Ngọc Rô on CÒN ĐÂU SÔNG NHUỆ NGÀY XƯA
Giời Ơi on GIA PHONG XỨ NGHỆ
T Nguyen on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Ha Dinh Van on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Muathuhanoi on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Người VN Yêu Nước on CỦA CE’SAR XIN TRẢ LẠI CHO CE’SAR
nguyenvan on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Nguyên on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Ông Đồ xứ Nghệ on HOÀNG SA LÀ ĐÂU HỞ NGOẠI?
Bác Hồ sống mãi trong sự cay đắng cùa chúng ta! on SỰ NHẦM LẪN LỜI CA “GỬI NGƯỜI EM GÁI MIỀN NAM”
mai ngoc on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Trịnh Công Tiến on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Khách qua đường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đỗ Duy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hà Văn Thịnh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Tăng Bá Hùng on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
trần cường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
phạm văn Lâm on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Hoàng on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hoàng Thiên Thanh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Gia đình Liệt sĩ chống Pháp, chống Mỹ on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
thiên đường XHCN on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Gia Linh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Trường Sơn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Văn An on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Nguyễn Văn An on MINH VƯƠNG
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
ANH NGUYỄN on THƠ XƯA CHƯA CŨ
Biết Tuốt on CHÂN DUNG PHÁC THẢO
Thanh Minh on TUYỆT THỰC
Công Trình on TRƯỜNG SA LÀNG TA
ĐoànhĐoành@ on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
Anh Hoa on TUYỆT THỰC
tù nhân lương tâm on TUYỆT THỰC
mai ngoc on TRƯỜNG SA LÀNG TA
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
kieuhung on TUYỆT THỰC
buncuoiwa on TUYỆT THỰC
Bà Ngoại on PHẠM DUY VÀ TỐ HỮU
Nguyễn Trường Sơn on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Khúc hát sông quê on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Cùng là người HN on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Văn Đức on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
Hoàng Xuân Thảo on THƠ CHO THIẾU NHI: CHÂN VÀ CÁNH
Hoàng Xuân Thảo on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
ĐoànhĐoành@ on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Trần Thường Kiệt on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Trần Thường Kiệt on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Cai nuoc minh no the on LỄ TANG ÔNG HỒ ĐỨC VIỆT
Công Luận on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Phạm Lưu Vũ on LIÊN HOAN THƠ TẠI PHÁP
Hoàng Khải on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
truclamthientruongy on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Móng Rồng on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trần Dân Đen on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trương Duy Nhì on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Hiên ngang, sáng ngời.... on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Triời mô xanh bằng trời Can Lộc on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Phạm Hồng Thái on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Người VN Yêu Nước on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Hồn Ma Võ Văn Kiệt on NGUYỄN KHOA ĐIỀM: SỰ TẦM THƯỜNG
HTvinh on SẮC DỤC
hát xẩm xứ nghệ on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on THƠ LÊ TUẤN LỘC
Nhân Văn Giai Phẩm on NGƯỜI MÊ VĂN HỌC BA LAN
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
D.Nhật Lệ on TÀI – TAI
3 Dê (tên tục Nguyễn Mười-Tạ Dũng, huý tự Nguyễn Chí Dũng) on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
park gil oung on ÁO LỤA VÀ HOA SEN
Người sông Tiền on VĨNH BIỆT NGƯỜI VỀ SÔNG TƯƠNG
Dương Diệu Minh on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
Phương Xa Ty on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
hát xẩm xứ nghệ on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Văn Đức on HUYỀN BÍ VÂN KIỀU
Lương Dũng Hà on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC THƠ LÊ THÁI SƠN
xuân thơm on TẠI SAO VIỆT NAM?
Tran Kim Phuong on CHUYỆN TẮM TIÊN
Văn Đức on DỊU DÀNG
Bà thành on CHUYỆN TẮM TIÊN
Khách qua đường on GẶP GỠ THÁNG TƯ
mai ngoc on C’EST LA VIE! (*)
Nguyễn Hữu Cường on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
PHƯƠNG NAM on 4 PHÚT TUYỆT VỜI
Bất công on C’EST LA VIE! (*)
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
nguyễn xuân on THƠ BÙI MAI HẠNH
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
Vinh on BÁC SĨ THÚ Y
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hát xẩm xứ nghệ on THƠ MỚI CỦA LÊ HUY MẬU
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
Vũ Đức Thắng on NGUYỄN PHAN HÁCH VÀ TÔI
nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hội những người ko được giải là đây on CHÙM THƠ PHẠM ĐƯƠNG
V. Đ. on NGẪU HỨNG
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
ChâuDiên on CỬA LÒ QUÊ CHA
Văn Đức on CỬA LÒ QUÊ CHA
phạm hữu đăng đạt on THẾ HỆ TÔI, MỘT THẾ HỆ CÚI ĐẦU
VIỆT HƯNG on CỬA LÒ QUÊ CHA
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
Biển Đen on THỦ PHẠM
Tiến Hùng on THỦ PHẠM
Người VN Yêu Nước on THỦ PHẠM
Dinh Trung on THỦ PHẠM
Phạm Lưu Vũ on THỦ PHẠM
c on NHÂN DÂN
Văn Đức on CHIẾN TRANH
lanh thu on CHIẾN TRANH
vu vơ on CHIẾN TRANH
Lâm Tú on CHIẾN TRANH
Điện Hải 1858 on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Nguyễn Anh Hùng on CHIẾN TRANH
Thái Doãn Táo on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Bùi Thạch Hãn Cựu chiên binh on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Nguyễn Đức Giang on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
mayhong hồ tây hà nội on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
FAn của Boi on BẠC MỆNH MỘT TÀI HOA!
Nguyễn Xuân Lai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
nhà thơ Nguyễn Thị Mai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Ước mơ dân chủ công bằng on NGHĨ VỀ TRẢ LỜI VTV CỦA ÔNG NGUYỄN ĐÌNH LỘC
Cu Lon on THƠ MẠC MẠC
VIỆT HƯNG on NGÔN NGỮ MỚI
Bich Khe on NGÔN NGỮ MỚI
Nguyễn Xuân Lai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC LÀ NIỀM LẠC THÚ
Bà thành on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Vĩ Trung Ngân on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Đảng ta vĩ đại thật on MỘT BÀI HỌC TỪ PHẠM QUỲNH
108 anh hùng lương sơn bạc on BA SÀM ƠI, NGƯƠI Ở ĐÂU?
108 anh hùng lương sơn bạc on BLOG BA SÀM LẠI BỊ CƯỚP VÀ BỊ XUYÊN TẠC
Nguyễn Đức Tùng on DU TỬ LÊ GIỚI THIỆU TRỊNH SƠN
Phương Xa Ty on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Nguyễn Trường Sơn on CÔNG AN KHÔNG ĐỨNG TRÊN LUẬT
hoanganh lam on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
GÀ QUÊ on LẠM BÀN