Thứ Ba, Tháng Sáu 15, 2021
Home Bài của bạn CHIẾN TÍCH CỦA ANH HAI LÚA VỚI VĂN MINH PHÁP

CHIẾN TÍCH CỦA ANH HAI LÚA VỚI VĂN MINH PHÁP

TRẦN THU DUNG

Ruộng lúa ở Camargue
Ruộng lúa ở Camargue

Pháp gắn liền với văn minh trồng lúa mì, trồng nho với bánh mỳ paté cùng với hàng trăm loại rượu nho nổi tiếng thế giới. Ít ai biết nước Pháp có vùng Camargue nổi tiếng nhờ trồng lúa. Lúa đã tham gia giúp nước Pháp trải qua được một giai đoạn khó khăn thiếu lương thực trong  chiến tranh thế giới thứ hai.

Camargue thuộc phía nam Arles giữa Địa trung Hải và châu thổ sông Rhône, vùng nước lợ, nơi hò hẹn của biển và sông. Phù sa bên lở bên bồi. Mưa bão thường xuyên. Thế kỷ 19 chính phủ Pháp đã xây đê tránh sụp lở do biển xói mòn. Khí hậu mùa hè nóng và khô, mùa đông không lạnh như những vùng khác. Nhiều chỗ nước đọng, sình lầy. Mùa hè có khi lên đến 38°. Muỗi sinh sản rất nhiều.

Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật vào Đông dương, nước Pháp có nguy cơ thiếu lương thực. Chính phủ đã thực hiện chương trình phát triển kinh tế phòng đói. Ngày 20/05/1941 Henri Maux kỹ sư từng sống ở Đông Dương đã cùng với Réné Belin bộ trưởng bộ lao động đến Camargue. Ông nhận thấy khí hậu ở đây mùa hè tương đồng với khí hậu Nam Kỳ và vùng đất hoang này có thể triển khai trồng lúa để vừa có lương thực, vừa cải tạo sinh thái. Ông quyết định về « mộ » nhân công nông dân VN sẵn có và rẻ tiền qua Pháp. Đây là đợt « xuất khẩu » lao động nông dân Việt lớn nhất trong những năm 40 của thế kỷ 20. Ngay sau đó chính quyền thuộc địa ra sắc lệnh « mỗi gia đình phải đóng góp 2 nhân lực cho « mẫu quốc » nếu không cha phải đi tù. « Tổ quốc hay đi tù » đó là khẩu hiệu đặt ra khi tuyển nhân công cùng với chiêu bài « tổ quốc đang gặp khó khăn, nghĩa vụ công dân ». Các lý trưởng phải thi hành nộp nhân công theo đúng chỉ tiêu. Ai không có tiền thế chân phải đi. Những đàn ông nông dân chất phác nghèo ở lứa tuổi 18-45 thương cha và gia đình phải rời làng quê ra đi trong nước mắt. 20 nghìn người nông dân được « tuyển mộ » không phải đi lính mà qua Pháp lao động để cứu nguy cho nước Pháp khó khăn. Họ được đưa đi những nơi gian nan, khổ nhất của nước Pháp như nhà máy, hầm mỏ, đồng hoang. Họ thay thế công nhân Ý, Tây ban Nha đắt tiền hơn, và đỡ khoản đóng một số bảo hiểm xã hội quy định. Họ trở thành thứ « nô lệ hiện đại ». Một số nông dân được đưa đến Camargue để trồng lúa vào năm 1942.

Theo lịch sử, người Camargue đã từng thử trồng lúa từ khoảng cuối thế kỷ 16 theo sắc lệnh của vua Henri IV để giữ đất.  Việc canh tác thất bại, các doanh nghiệp từ chối không đầu tư. Lúa leo teo, xen lẫn cỏ chỉ dùng cho lợn ăn. Đất lại bỏ trống vì không cây nào có hiệu quả kinh tế sống nổi trên thổ nhưỡng đó. Các nhà nghiên cứu Pháp ghi nhận năm 1939 Camargue chỉ là vùng đất hoang.

Cây lúa như người châu Á, hiền lành cần mẫn hút nước và nắng để đem lại hạt gạo nuôi người. Lúa không ảnh hưởng đến thổ nhưỡng mà còn cải tạo thổ nhưỡng. Rạ có thể cho súc vật ăn hoặc chôn xuống để cải tạo đất cho vụ sau. Trồng lúa xong, người ta có thể gối 2 vụ khác, như ngô, khoai. Chính vì thế, nhiều nơi ở Camargue sau khi nhờ lúa cải tạo được thổ nhưỡng người Pháp đã có thể biến thành nơi trồng nho. Trước đó, nho không thể trồng được trên phù sa mặn.

Theo một số nhà khảo cổ học thế giới, Đông Nam Á được coi là cái nôi văn minh lúa nước  đầu tiên. Văn minh lúa nước này đã được người Pháp đánh giá cao. Chính phủ Pháp quyết định mang « thầy thợ» sang để cải tạo vùng đất hoang mặn ở Camargue. Tháng 9/1941 nhà nước cung cấp giống lúa và nhân lực rẻ tiền và người dân Camargue  phải cung cấp đất, và bán sản phẩm theo giá quy định của nhà nước. 125 người nông dân Việt bị tống đến trong mấy cái nhà cất tạm, không nhà vệ sinh, không có điện. Họ được giao công việc trồng lúa tại Camargue.

Người nông dân Việt đội nón làm việc trên cánh đồng ở Camargue
Người nông dân Việt đội nón làm việc trên cánh đồng ở Camargue

Anh hai lúa trên cánh đồng ở Camargue
Anh hai lúa trên cánh đồng ở Camargue

Trồng lúa rất rất vất vả từ khâu làm đất đến lúc ra sản phẩm đòi hỏi nhiều sức lao động và sự cần cù. Trước khi gieo hạt, phải nhổ sạch cỏ, cày ải phơi đất cả tháng, san bằng cho tơi, đều, không được chỗ trũng nếu không chỗ đó lúa bị úng. Thóc ngâm nước muối loãng để loại hạt lép, sau cho vào bao ngâm nước sạch khoảng hơn một ngày. Nước ngâm không được lạnh quá, nóng quá, rồi đem ủ bằng phân bón lá, sau lại rửa sạch, để ráo nước lần nữa, tạo điều kiện cho hạt nẩy mầm. Gieo hạt phải đều, cách xa nhau khoảng 20 cm để không có chỗ dày chỗ thưa. Chỗ dày lúa chen nhau chậm phát triển, không chắc hạt. Lúa cũng như người con gái có tuổi dậy thì, tuổi nghén đòng, tuổi ngậm sữa. Con gái tuổi nào cũng nhõng nhẽo, mỗi giai đoạn phải chiều chuộc chăm xóc khác nhau, đòi hỏi khác nhau về nước, phân và nắng.  Riêng việc canh nước cũng vất vả. Nước nhiều lúa úng, khi gieo hạt phải  rút hết nước, để hạt mới quyện vào đất, nắng sưởi đất, hơi ấm hạt mới nẩy mầm như tình yêu mới bám rễ. Cây đang mơn mởn, lại cho nước vào. Cây lớn chút lại tháo nước, vì rễ cũng cần hơi ấm của mặt trời… Trời thuận đất hòa thì người nông dân đỡ vất vả, mưa dầm dề, giông bão, thiếu nắng là cả nỗi lo của người lao động. Sâu rày luôn tấn công. Lúa sắp chín phải canh chim, chuột. Lúa còn hơi non, gặp giông bão cũng mất vụ. Trồng lúa là trông mọi thứ : « Trông trời, trông đất, trông mây/Trông mưa, trông nắng, trông ngày trông đêm/ Trông cho chân cứng đá mềm /Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng ». Nghề nông đã vất vả, trồng ra hạt gạo là bao mồ hôi nước mắt đổ xuống. Vậy mà đêm đêm trở về người nông dân Việt qua Pháp đâu có được nghỉ ngơi trong gia đình đầm ấm, có tiếng reo đùa của trẻ con, có bàn tay mềm mại ấm áp của người phụ nữ vuốt ve, một mâm cơm nóng đợi sẵn, họ trở về trong mấy cái nhà tôn mái cong như hầm tránh đạn, lạnh lẽo, tự lo nấu cơm, giặt rũ. Cái vất vả, cô đơn, càng gợi nhớ khói lam chiều nơi quê hương. Bên châu Ấu, tháng 4 ở khu cửa biển, nước lạnh ngắt như đóng đá, họ vẫn phải thò tay vào rửa hạt giống, vì có trực tiếp mới cảm nhận được độ chắc của hạt. Trồng lúa phải biết yêu cây lúa như yêu người con gái đòi hỏi sự cảm nhận nâng niu tự chính bàn tay mình. Vượt qua mọi gian khổ, chịu đựng những người nông dân Việt chất phác, cần cù đã thành công ngay vụ lúa đầu tiên cho nước Pháp. Kinh nghiệm lấn biển từ bao nhiêu thế kỷ mở mang bờ cõi của người Việt chuyên trồng lúa nước được đem áp dụng tại đây. Họ dùng kỹ thuật canh tác đê điều, chặt cây đốt thành than để cải tạo đất. Lần đầu tiên nước Pháp có một vụ lúa thu hoạch đạt 250 tấn thóc, ra sản phẩm 125 tấn gạo. Sau đó người nông dân Việt tiếp tục mở mang được 260 hecta diện tích trồng lúa. Thấy sự thành công trong việc trồng lúa, lấn biển, năm 1943 Pháp đưa thêm 375 người lao động VN đến. Năm 1943 sản lượng tăng gấp đôi. France Actualité đã có phóng sự ngày 5/11/1943 về sự thành công trồng lúa ở Camargue. Năm 1946, nhờ lao động Việt này sản lượng thu 1900 tấn thóc, và mở hơn 1000 hecta trồng lúa.

Năm 1952, khi tình hình Đông Dương bất ổn, chính quyền Pháp lo nguy cơ những mầm mống cách mạng nổi dậy của những người « nô lệ hiện đại » như những người Mỹ đen ở Mỹ, Pháp đã đưa số người lao động trở lại Đông dương. Đại đa số trở về VN. Chanh đã vắt vỏ. Người Pháp đã nắm toàn bộ kinh nghiệm trồng lúa nước, và đất đai đã được người nông dân Việt cải tạo. Bao mồ hôi nước mắt của người Việt đổ xuống để biến vùng đất mặn hoang vu thành vựa lúa trù phú của Pháp. Nếu ruộng đất sẵn chỉ việc trồng lúa, công việc cũng đã vất vả đòi hỏi sự cần cù chịu khó của con người, huống chi phải cải tạo đất mặn để trồng lúa cái vất vả tăng lên gấp nhiều lần. Sống khổ cực, bị phân biệt đối xử, bất đồng ngôn ngữ, họ phải lao động miệt mài để tồn tại và cứu đói cho « mẫu quốc ». Công lao của người nông dân Việt rất lớn đối với vùng Camargue, tiếc rằng họ là những người nông dân chất phác, thậm chí mù chữ, chỉ quen đồng áng, cúi mặt với đất nên đã đã bị người Pháp lờ đi thành quả của họ và không muốn nhắc đến việc chính họ bị người Pháp miệt thị gọi là « nhà quê » lại là người thầy dạy cho người Pháp trồng lúa. Người nô lệ nhiều khi giỏi hơn chủ như đội quân La Mã đã phải học ở tù binh Hy Lạp nhiều kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực. Người Việt đã có văn minh trồng lúa từ bao đời nay. Người dân Việt nô lệ đã truyền lại văn minh lúa nước cho người Pháp ở Camargue.

Ngày nay nhờ máy móc, kỹ thuật cao, ở Camargue chỉ có 169 người làm nghề trồng lúa nhưng canh tác khoảng 16640 hecta đất. Năm 2008 sản lượng thu nhập 98176 tấn thóc. Xưa họ làm bằng tay, không máy móc, nước lạnh cóng, mới thấu hiểu sức chịu đựng gian khổ của người nông dân Việt. Gần 70 năm sau, công lao của họ mới được biết đến, khi một vài người Pháp tiến bộ đã phanh phui bộ mặt thật của chế độ thực dân. Hervé Schiavetti đảng viên công sản làm thị trưởng hai nhiệm kỳ ở vùng Arles từ năm 2001 là người đầu tiên đứng ra tổ chức buổi lễ vào ngày thứ năm ngày 10 tháng 12 thứ năm 2009 để cám ơn những người lao động VN đã đến đây làm muối và trồng lúa, nhờ họ, ngày nay mới có vựa lúa Camargue.  Hôm đó tiếc rằng chỉ còn có 10 Việt lao động còn sống được vinh dự mời đến. Lần đầu tiên trong lịch sử thuộc địa, nước Pháp chính thức biết ơn người dân xứ thuộc địa.

Ngày nay ở Camargue có một bảo tàng về lúa ở khu Rizerie du petit Manusclat 13200 Arle. Ngay từ cửa vào, một tấm biển đã ghi nhận « Không có lúa, không có vùng Camargue ngày nay ». Lúa đã làm sống lại vùng đất hoang mặn nơi đây. 12 năm khổ sai vất vả, người nông dân Việt đã cải tạo hơn 10000 hecte đất trồng lúa (tức là 2/3 diện tích so với ngày nay). Vậy có thể nói không có nông dân Việt nam không có vựa lúa ở Camargue ngày nay. Chính những anh hai lúa đã góp phần làm thành phố Camargue nghèo nàn trở nên nổi tiếng vì lúa. Ngày nay Camargue tự hào là nơi duy nhất cung cấp gạo « sạch » cho nước Pháp. Vô hình chung, những người nông dân Việt đã làm rạng danh cho văn minh lúa nước VN tại Pháp.

Văn minh lúa nước ở VN đã được những người Pháp nhân danh đi « khai sáng văn minh » đem áp dụng tại Pháp. Pháp đã biết lợi dụng những người nông dân Việt để nắm kinh nghiệm trồng lúa nước. Điều này chứng minh việc trao đổi văn hóa, cử người đi du học là cần thiết. Biết đem cái văn minh, cái hay đem về lợi cho đất nước là điều đáng quý. Nhưng điều này cũng đòi hỏi sự thông minh đầy sáng tạo.

Ngày nay có một số giáo sư VN qua châu Phi cũngdạy cho dân ở đây biết trồng lúa. Thật đáng tiếc VN xứ trồng lúa, đi dạy xứ người trồng lúa, nhưng lại chưa có bảo tàng về lúa với những kỹ thuật từ thời tổ tiên đến ngày nay cùng với những cuốn sách, hình ảnh viết về sản phẩm sinh ra từ lúa như bánh chưng từ thời vua Hùng thứ 6, bánh cuốn, nem, phở, bún, bánh đa… cùng với những áng văn thơ ca ngợi về lúa. Bảo tàng là một hình thức lưu trữ văn hóa cần thiết giúp cho việc nghiên cứu, giáo dục và phát triển xã hội và là một minh chứng về văn minh và lịch sử phát triển của một dân tộc.

Paris 22/01/2013

RELATED ARTICLES

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

BỐ VÀ CON

NGUYỄN TRỌNG TẠO Tặng con và bố Tú Con gọi nồng nàn tiếng bố Bố cưng gái rượu yêu kiều  Rồi con thành bà nội ngoại Bố mãi gọi...

KHI XÃ HỘI XUỐNG CẤP, NHÀ THƠ – NGƯỜI Ở ĐÂU?

NGUYỄN TRỌNG TẠO (Nguyễn Đức Tùng thực hiện) Nguyễn Đức Tùng: Rất vui được trò chuyện với anh Nguyễn Trọng Tạo, chàng thi sĩ lãng mạn...

1 COMMENT

  1. Ngược lại chúng ta cũng phải biết ơn người Pháp, cùng với các công trình kiến trúc nhà cửa, cầu đường là các công trình đê đập, hệ thống nông giang dọc miền Trung trong chương trình hỗ trợ cây lúa ở Đông Dương vào những năm đầu thế kỷ 20. Đê đập đã tồn tại phục vụ cho đồng điền cho mãi tới ngày nay, nhưng để dựng một tấm bia tưởng niệm những vị tiền bối có ý tưởng nhân đạo đó thì ở ta phải chờ ý kiến cấp trên đã, không ai được tự ý làm, chưa nói đến chuyện lập bảo tàng lưu trữ các vật kỷ niệm, các công nghệ xây cống, xây đập để người sau học theo và để rồi đập xây chưa xong xe ben mới đụng vào đã trôi. Nói tóm lại: Cái gọi là định hướng của ta cần được xem lại!

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -

Most Popular

SINH NHẬT MÙA THU

NGUYỄN TRỌNG TẠO SINH NHẬT MÙA THU Tặng Em Ai giấu trong màu thu Bông cúc xanh tháng bảy Nhìn cánh hoa anh thấy Thu về cùng gió xanh Ai giấu...

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

BỐ VÀ CON

NGUYỄN TRỌNG TẠO Tặng con và bố Tú Con gọi nồng nàn tiếng bố Bố cưng gái rượu yêu kiều  Rồi con thành bà nội ngoại Bố mãi gọi...

KHI XÃ HỘI XUỐNG CẤP, NHÀ THƠ – NGƯỜI Ở ĐÂU?

NGUYỄN TRỌNG TẠO (Nguyễn Đức Tùng thực hiện) Nguyễn Đức Tùng: Rất vui được trò chuyện với anh Nguyễn Trọng Tạo, chàng thi sĩ lãng mạn...

Recent Comments

loctran on THỜI MẠT
Đào Nguyên Lan on THƠ NGUYỄN NGỌC VƯỢNG
tamnguyenxuan55gmail.com on 3 TẢN VĂN CỦA ĐẬU THỊ THƯƠNG
Vương on ĐẤT NƯỚC TÔI
Nguyễn Hoàng Sơn on NHÀ THƠ NGUYỄN DUY VỀ LÀNG
tu sinh on BA THẰNG BẠN
Nguyễn Thanh Cừ on TỔNG THỐNG
Trần Anh Dũng on THƠ ĐẶNG LƯU SAN
Nguyễn Ngọc Phong on “SUY NGẪM” CỦA LÊ THANH DŨNG
Hoàng Trí on NGỤM CHÁO LÚ
Trâu Hà Tĩnh on BA CÂU HỎI CHO HOÀNG HƯNG
sonnghithu@gmail.com on NGƯỜI VỀ TRƯỜNG SA
phamducquy on THƠ VÕ THANH AN
trần vũ long on THƠ VÕ THANH AN
Nguyễn Trường Sơn on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
TRẦN NHUỆ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Nguyễn Thanh Cừ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Lê Kinh Thắng - Tham tán Thương mại tại Nam Phi on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Lê Anh Phong - TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Nguyễn Thị Bích Lài - Đồng hương của hai người hiện ở TP. Pleiku - tỉnh Gialai – Pleiku. on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Phạm Đông on VĂN TẾ CÂY HÀ NỘI
Nguyễn Thanh Cừ on ĐỐI THOẠI VỚI LÝ QUANG DIỆU
Nguyễn Thanh Cừ on XIN ĐỪNG ĐỤNG VÀO CÂY…
Người lái đò on ĐANG SỐNG MÀ ĐÃ BẢO TÀNG…
Phan Thai Duc Hieu on THÂN PHỤ TÔI
THUYTANTHUYTRUONG on TUYẾT NGA
jamesnguyen on CON TUYẾT
jamesnguyen on KIẾP HÀI NHI
Khanh nguyen on NẾU NHƯ KHÔNG… NẾU
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Pham Tien Cat on NGUYỄN HOA VÀ THƠ
Anh Nguyên on CÁI ĐINH ỐC
Nguyễn Thanh Cừ (Hà Nội) on NGUYỄN TRỌNG TẠO HAY ÔNG “ĐỦ MÓN, 5 SAY”
phạm Dũng on SUY NGHĨ VỀ HÒA HỢP
Nguyễn Thị Long on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
nguyễn thị thanh minh on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on VĨNH BIỆT NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG SÁNG
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on KHÚC HÁT SÔNG QUÊ – BÀI CA CỦA MỌI NGƯỜI
Lâm Bích Thủy on THƠ VALENTINE 2014
Anh Nguyên on THƠ VALENTINE 2014
Pham Tuấn Thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguyễn Tiến Dũng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Phạm Trường Thi on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phạm tuấn thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguoi mien nui on QUYẾT LIỆT LÀ… TAN VỠ
Nguyễn Mộng Nhưng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phó thường dân on NGUY CƠ TỪ TRUNG QUỐC
thời đại khoa học on GẶP TƯỚNG GIÁP VÀ NGẪM VỀ NGƯỜI
Nỗi buồn hoa phượng on TRUYỆN CỰC NGẮN: BIẾU SÁCH
Gloomy 1721979 on KINH SÁCH CỦA NƯỚC VỆ
Dân gian: "Nhà văn nói láo, nhà báo nói phét" on NƯỚC ICELAND KÍNH TRỌNG NHẤT NGHỀ VIẾT VĂN
Hoạ sĩ Trần Thị Bích Huệ on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Huỳnh Văn Úc on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Van Duc on HOA MẠC TRẮNG
nguyễncamgiang@yahoo.com.vn on NHỮNG CÁI CHẾT TỨC TƯỞI CỦA NHÀ VĂN
Danh Hiếu on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Nhan Van on HỒI KÝ CA SĨ
Bà Ngoại on HỒI KÝ CA SĨ
Văn Nhân. on HỒI KÝ CA SĨ
Dungquy on HỒI KÝ CA SĨ
Người nhà quê on SUY NGẪM CỦA LÊ THANH DŨNG
nguyenvan on TÔI YÊU VIỆT NAM
Thanh Minh on TÔI YÊU VIỆT NAM
Hoàng Lãng Thụy on INRASARA BÌNH BÀI THƠ “CHIA”
Đỗ Cảnh Thìn on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
ANH NGUYỄN on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Nguyễn thanh Hà on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Thanh nien nghiem tuc on ĐẶNG HUY VĂN DẶN PHƯƠNG UYÊN
Hà quang Minh on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Trọng Hoàng on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Văn Nhân. on HỌC LÀM QUAN
vũ thảo on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on HỌC LÀM QUAN
Nguoi lam thue on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
nguyenvan on HỌC LÀM QUAN
GÀ QUÊ on HỌC LÀM QUAN
montaukmosquito on HỌC LÀM QUAN
Phạm Lưu Vũ on KHÔNG ĐỀ 72
Hạnh Nhung on KHÔNG ĐỀ 72
dinhqn on KHÔNG ĐỀ 72
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Khánh Minh on KHÔNG ĐỀ 72
Nhị Mai on KHÔNG ĐỀ 72
Bá Tiến on TUYẾT NGA
Thanh Minh on TUYẾT NGA
HOÀNG TRƯỜNG SA on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Gloomy 1721979 on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Thập tứ đại ngu. on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
mai thanh sơn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Hồ Muôn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
ANH NGUYỄN on LƯU MANH KẺ CHỢ
ANH NGUYỄN on CHÙM THƠ BIỂN
Thanh Minh on LƯU MANH KẺ CHỢ
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Vũ Xuân Tửu on LƯU MANH KẺ CHỢ
luong thien on LƯU MANH KẺ CHỢ
nguyenvan on LƯU MANH KẺ CHỢ
Phan Thế Thủy on LƯU MANH KẺ CHỢ
T. A. T on THÂN PHỤ TÔI
Lê văn Minh on THÂN PHỤ TÔI
Tô Lê Sơn on THÂN PHỤ TÔI
ANH NGUYỄN on SẮC DỤC
Đỗ Duy Văn on THÂN PHỤ TÔI
Lưu Đinh Anh on SẮC DỤC
hao hao on THÂN PHỤ TÔI
nguyenvan on 23 TẦNG NGƯỜI
Văn Trường Lưu on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Hoàng Văn Hoan on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Trần Thị Bích Huệ on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
nguyen van lung on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Ngô Văn Hải on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Phan Huy Vũ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Trần Thị Bích Huệ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Nguyễn Hữu Đức on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
Nguyễn Thị Chinh on VĂN CAO: TRƯƠNG CHI LÀ TÔI ĐẤY
Nguyen Van Nam on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
Thanh Minh on GIA PHONG XỨ NGHỆ
NGUYỄN VĂN ĐOÀN on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
LÒ LÃO NÔNG/NGUYỄN ĐỨC TOAN on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
(Vẫn là) Cháu ngoan Bác Hồ. on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
nguyễn văn Đức on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người nhà quê on GIA PHONG XỨ NGHỆ
Nguyễn Đắc Vinh on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Ngọc Rô on CÒN ĐÂU SÔNG NHUỆ NGÀY XƯA
Giời Ơi on GIA PHONG XỨ NGHỆ
T Nguyen on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Ha Dinh Van on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Muathuhanoi on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Người VN Yêu Nước on CỦA CE’SAR XIN TRẢ LẠI CHO CE’SAR
nguyenvan on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Nguyên on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Ông Đồ xứ Nghệ on HOÀNG SA LÀ ĐÂU HỞ NGOẠI?
Bác Hồ sống mãi trong sự cay đắng cùa chúng ta! on SỰ NHẦM LẪN LỜI CA “GỬI NGƯỜI EM GÁI MIỀN NAM”
mai ngoc on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Trịnh Công Tiến on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Khách qua đường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đỗ Duy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hà Văn Thịnh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Tăng Bá Hùng on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
trần cường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
phạm văn Lâm on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Hoàng on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hoàng Thiên Thanh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Gia đình Liệt sĩ chống Pháp, chống Mỹ on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
thiên đường XHCN on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Gia Linh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Trường Sơn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Văn An on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Nguyễn Văn An on MINH VƯƠNG
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
ANH NGUYỄN on THƠ XƯA CHƯA CŨ
Biết Tuốt on CHÂN DUNG PHÁC THẢO
Thanh Minh on TUYỆT THỰC
Công Trình on TRƯỜNG SA LÀNG TA
ĐoànhĐoành@ on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
Anh Hoa on TUYỆT THỰC
tù nhân lương tâm on TUYỆT THỰC
mai ngoc on TRƯỜNG SA LÀNG TA
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
kieuhung on TUYỆT THỰC
buncuoiwa on TUYỆT THỰC
Bà Ngoại on PHẠM DUY VÀ TỐ HỮU
Nguyễn Trường Sơn on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Khúc hát sông quê on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Cùng là người HN on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Văn Đức on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
Hoàng Xuân Thảo on THƠ CHO THIẾU NHI: CHÂN VÀ CÁNH
Hoàng Xuân Thảo on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
ĐoànhĐoành@ on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Trần Thường Kiệt on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Trần Thường Kiệt on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Cai nuoc minh no the on LỄ TANG ÔNG HỒ ĐỨC VIỆT
Công Luận on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Phạm Lưu Vũ on LIÊN HOAN THƠ TẠI PHÁP
Hoàng Khải on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
truclamthientruongy on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Móng Rồng on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trần Dân Đen on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trương Duy Nhì on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Hiên ngang, sáng ngời.... on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Triời mô xanh bằng trời Can Lộc on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Phạm Hồng Thái on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Người VN Yêu Nước on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Hồn Ma Võ Văn Kiệt on NGUYỄN KHOA ĐIỀM: SỰ TẦM THƯỜNG
HTvinh on SẮC DỤC
hát xẩm xứ nghệ on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on THƠ LÊ TUẤN LỘC
Nhân Văn Giai Phẩm on NGƯỜI MÊ VĂN HỌC BA LAN
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
D.Nhật Lệ on TÀI – TAI
3 Dê (tên tục Nguyễn Mười-Tạ Dũng, huý tự Nguyễn Chí Dũng) on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
park gil oung on ÁO LỤA VÀ HOA SEN
Người sông Tiền on VĨNH BIỆT NGƯỜI VỀ SÔNG TƯƠNG
Dương Diệu Minh on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
Phương Xa Ty on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
hát xẩm xứ nghệ on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Văn Đức on HUYỀN BÍ VÂN KIỀU
Lương Dũng Hà on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC THƠ LÊ THÁI SƠN
xuân thơm on TẠI SAO VIỆT NAM?
Tran Kim Phuong on CHUYỆN TẮM TIÊN
Văn Đức on DỊU DÀNG
Bà thành on CHUYỆN TẮM TIÊN
Khách qua đường on GẶP GỠ THÁNG TƯ
mai ngoc on C’EST LA VIE! (*)
Nguyễn Hữu Cường on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
PHƯƠNG NAM on 4 PHÚT TUYỆT VỜI
Bất công on C’EST LA VIE! (*)
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
nguyễn xuân on THƠ BÙI MAI HẠNH
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
Vinh on BÁC SĨ THÚ Y
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hát xẩm xứ nghệ on THƠ MỚI CỦA LÊ HUY MẬU
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
Vũ Đức Thắng on NGUYỄN PHAN HÁCH VÀ TÔI
nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hội những người ko được giải là đây on CHÙM THƠ PHẠM ĐƯƠNG
V. Đ. on NGẪU HỨNG
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
ChâuDiên on CỬA LÒ QUÊ CHA
Văn Đức on CỬA LÒ QUÊ CHA
phạm hữu đăng đạt on THẾ HỆ TÔI, MỘT THẾ HỆ CÚI ĐẦU
VIỆT HƯNG on CỬA LÒ QUÊ CHA
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
Biển Đen on THỦ PHẠM
Tiến Hùng on THỦ PHẠM
Người VN Yêu Nước on THỦ PHẠM
Dinh Trung on THỦ PHẠM
Phạm Lưu Vũ on THỦ PHẠM
c on NHÂN DÂN
Văn Đức on CHIẾN TRANH
lanh thu on CHIẾN TRANH
vu vơ on CHIẾN TRANH
Lâm Tú on CHIẾN TRANH
Điện Hải 1858 on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Nguyễn Anh Hùng on CHIẾN TRANH
Thái Doãn Táo on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Bùi Thạch Hãn Cựu chiên binh on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Nguyễn Đức Giang on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
mayhong hồ tây hà nội on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
FAn của Boi on BẠC MỆNH MỘT TÀI HOA!
Nguyễn Xuân Lai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
nhà thơ Nguyễn Thị Mai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Ước mơ dân chủ công bằng on NGHĨ VỀ TRẢ LỜI VTV CỦA ÔNG NGUYỄN ĐÌNH LỘC
Cu Lon on THƠ MẠC MẠC
VIỆT HƯNG on NGÔN NGỮ MỚI
Bich Khe on NGÔN NGỮ MỚI
Nguyễn Xuân Lai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC LÀ NIỀM LẠC THÚ
Bà thành on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Vĩ Trung Ngân on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Đảng ta vĩ đại thật on MỘT BÀI HỌC TỪ PHẠM QUỲNH
108 anh hùng lương sơn bạc on BA SÀM ƠI, NGƯƠI Ở ĐÂU?
108 anh hùng lương sơn bạc on BLOG BA SÀM LẠI BỊ CƯỚP VÀ BỊ XUYÊN TẠC
Nguyễn Đức Tùng on DU TỬ LÊ GIỚI THIỆU TRỊNH SƠN
Phương Xa Ty on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Nguyễn Trường Sơn on CÔNG AN KHÔNG ĐỨNG TRÊN LUẬT
hoanganh lam on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
batrioldman on DILI ADAM & EVA