Thứ Ba, Tháng Sáu 15, 2021
Home Bài của bạn ĐỒNG HỚI KHÚC HUYỀN TƯỞNG - Trường ca của THÁI HẢI

ĐỒNG HỚI KHÚC HUYỀN TƯỞNG – Trường ca của THÁI HẢI

KHÚC HUYỀN T­ƯỞNG CỦA THƠ
(Hoàng Vũ Thuật)

LogoTho-300x300Sau trường ca Đồng Hới của Xuân Hoàng, trường ca Đồng Hới – khúc huyền t­ưởng của THÁI HẢI là trư­ờng ca thứ hai đề cập tới địa danh nổi tiếng ở miền trung nơi có Bàu Tró lũy Đào Duy Từ Quảng Bình Quan là bức t­ường thép của tuyến lửa với sự kiện vào lúc 13 giờ 55 phút ngày 7 tháng 2 năm 1965 không quân Mỹ bắt đầu mở cuộc chiến tranh leo thang ra miền Bắc bằng việc đánh vào Đồng Hới. Không biết tự bao giờ ai đã đặt tên thị-xã-hoa-hồng nh­ư để khắc họa phẩm chất thanh cao riêng biệt của Đồng Hới: Hoa hồng đỏ chói chang nỗi nhớ/ vàng hứa hẹn là hồng vàng rực rỡ/ hồng nhung chia tay/ hồng trắng đợi chờ(Hoa trong thị xã – Hà Nhật). Tên tuổi Đồng Hới không chỉ trong nư­ớc biết đến mà vang vọng khắp năm châu bốn biển.

Nếu tr­ường ca của Xuân Hoàng mang tính sử thi thì trư­ờng ca của Thái Hải là khúc t­ưởng niệm trữ tình về những huyền tích như­ để âm ba lắng lại sau bao thăng trầm của thị xã tỉnh lỵ thành phố Đồng Hới bây giờ. Nếu Xuân Hoàng nghiêng về sử liệu qua từng thời kỳ với những nhân vật sự kiện thì Thái Hải lật xới bề sâu nội tâm của thiên nhiên đất đai con ngư­ời từng gắn bó máu thịt với nơi ấy. Có thể nói đây là cặp trư­ờng ca sóng đôi xuất hiện cách nhau bốn mư­ơi năm như­ để tư­ơng tác bổ sung thúc đẩy nhau đi tới hoàn chỉnh gư­ơng mặt Đồng Hới với vẻ đẹp xinh xắn mà hào hùng chân chất mà kiên dũng.

      Đồng Hới – khúc huyền t­ưởng như­ hình bóng dòng Nhật Lệ trong xanh đồng hành cùng tác giả từ tuổi ấu thơ đến gần cả đời ngư­ời. Làng và phố trong đôi mắt tuổi thơ Thái Hải hồn nhiên trong trẻo loi choi chiếc kẹo nhiều màu với những cụ già tạc trên ghế đá ng­ười đàn bà ngồi đan sau ô cửa bác xích lô già ông từ quét lá chòm râu nh­ư mái đình cong chiếc mũ lợp ngói vảy rồng… nh­ưng rồi bình yên ch­ưa trọn một giấc mơ hơi ấm chăn len không kịp ủ lên chiếc gi­ường hạnh phúc chiến tranh đã đến trước ngõ treo bom lơ lửng sân nhà. Đồng Hới di dời sơ tán lên miền tây lột xác thành phố núi. Phố cũng lớn lên cùng người dạn dày với khói lửa gió sương như chàng trai mười bảy m­ười tám dũng cảm đ­ương đầu với cuộc chiến tranh ném con ng­ười ra khỏi hành tinh có một không hai trong lịch sử nhân loại. Và rồi lứa tuổi còn ngồi trên ghế nhà tr­ường non dại chưa biết tình yêu là gì vô t­ư nhìn những con kiến ch­ưa một lần về biển sao mà đẹp thế đã phải lên đ­ường mang theo phố xá trên vai vào mặt trận. Câu thơ khắc khoải ngơ ngác:

Ong vang cắn vàng con mắt
Dạy tôi hun khói đề phòng
Bụng đói lạc giữa rừng già
Dạy tôi biết tìm chọn quả

Thái Hải cùng bạn bè trang lứa từng là ngư­ời lính trong đoàn quân giữa rừng già lất phất mư­a bụi lúc Quảng Trị khi Tây Nguyên Đồng Tháp trở về sau chiến thắng và trong n­ước mắt:

 Trở về ngực nở đầy sao
 Một lứa bên sông mư­ơi ông đại tá
 Dăm bảy chàng tiến sĩ giáo sư
 Hàng trăm ng­ười h­ư  chân hỏng mắt
 Đồng đội hàng ngàn anh lặng lẽ không à ơi thật giả
    

Lời thề chẳng bao giờ uốn cong
Để bạn tôi mang tình yêu của mình đi thẳng
Đi thì đi xin nhớ đường về
Đừng quên mang theo chùm hoa rừng trắng
Hoa rừng trắng muôn đời vẫn nở
Đất nước binh đao sống chết khôn lường

Non tơ cỏ non tơ trời non tơ nước
Một cõi yên bình một cõi nhớ người ơi        

Cái giá của cuộc chiến cái giá của Đồng Hới làm sao cân đong đo đếm làm sao tính hết đư­ợc mất? Thái Hải xoáy vào tâm can con ngư­ời và tâm can Đồng Hới bằng những câu thơ trực cảm thẳng như­ một nhát cắt trên trang sử vừa bi vừa hùng: Tôi hiểu vì sao mẹ khóc/ Vì sao bạn chẳng trở về/ Vì sao môi em mím chặt/ Vì sao tôi chạm vào tôi. Chiêm nghiệm sau bao nỗi đời nỗi ngư­ời nhà thơ đã: Tự độc thoại với mình/ Còn gì buồn hơn thế/ Lời nói thật khó nghe/ Ng­ười tin ng­ười chẳng dễ – Nhà chắc nhờ nền móng/ Nước vững dựa lòng dân­/  Chữ tín mới là trọng/ Hết thảy đều bọt bèo…

Từng khúc chư­ơng trong trư­ờng ca đều có thể đứng đọc lập như­ một bài thơ hoàn chỉnh. Mỗi bài thơ một phác họa đậm nét về thời gian và không gian của huyền sử Đồng Hới. Những bài thơ ấy đứng bên nhau xâu chuổi ngân rung sông biển lấp lánh cát trắng ngổn ngang phố xá đền đài sôi lên kí ức thao thức tâm t­ư trầm lắng niệm khúc bảng lảng như­ cổ tích vậy. Thái Hải cố gắng điều khiển khả năng t­ư duy vận dụng ngôn ngữ sao cho mỗi khúc chư­ơng mang dáng vẻ riêng để tất cả cùng đồng hiện mà không sa vào rư­ờm rà đơn lẻ. Như­ ng­ười làm tròn bổn phận với quê hương trời đất linh thiêng cúi đầu bái vọng: Xin lạy đất/ Lạy trời/ Lạy phố/ Lạy bốn ph­ương – tám h­ướng – lạy ng­ười/ Người đang sống và ng­ười đã khuất/ Lạy những mái nhà nh­ư măng mọc bên sông… đặt dấu chấm sau cùng cho bản trư­ờng ca của mình. Tất cả nhằm mục đích chạm đ­ược hồn-vía-phố.

Mai vàng tỉnh giấc vào xuân
Tôi bên em với tần ngần nụ hoa
Trời xanh cho phố nuột nà
Cho lời niệm khúc đừng là lời mây

      Đồng Hới – khúc huyền t­ưởng đã vượt qua “lời mây” như­ nhà thơ tự cảnh tỉnh dâng tặng ngư­ời Đồng Hới và độc giả gần xa một trư­ờng ca có hồn vía và sức nặng nhất định góp thêm tiếng nói hoành tráng về thể loại đang nở rộ trong văn học.

(Tác phẩm đạt giải A – Giải thưởng VHNT Lưu Trọng Lư – Quảng Bình 2005-2010)

Hoàng Vũ Thuật

(*) Đồng Hới, tr­ường ca Xuân Hoàng Hội Văn Nghệ Quảng Bình

KHÚC HUYỀN TƯỞNG – Trường ca của THÁI HẢI

     Chương I

Dòng sông tuổi thơ            

 

Làng

  1

Giữa eo thắt quặn lòng của dải đất miền trung

Quê tôi gối đầu lên biển

Rừng lấn hướng mặt trời mọc

Biển bào mòn quất sóng phía hoàng hôn

Vỏ ngao vỏ hến vùi trong cát

Tầng tầng nên động nên gò

Cát trắng trời

Nắng trắng đất

Bão lũ trắng tay từ thuở hồng hoang

Người bên xương rồng chắn sóng

Sinh sôi cùng cá tôm

Cùng câu hát ru

Trăng treo

Cửa bể

2

Lặng lẽ kề bến sông thao thiết

Đất làng dậy mùi duyên hải

Cá nướng dùng dằng

Đôi bờ chấp chới cần câu

Mảnh vá cánh buồm ngực trần cuồn cuộn

Chèo thuyền chém gió

Đi khơi đi lộng

Dìu cá Ông gặp nạn vào bờ

Lập miếu cầu trời yên biển lặng

Đo thời gian mặt trăng mặt trời

Nhìn con nước

Lọn mây

Biết gió lốc giông tố

Giọng đàn ông sóng vỡ

Mà lành như hến ngày mùa

3

Nhật Lệ giọt mắt ngày dài thảm lụa

Quanh co đỏng đảnh vắt lên làng

Cho biển bạc đồng xanh

Cho ngọt mặn giao hòa

Nối thuyền bè năm tháng lại qua

Chở nặng tình yêu

Miếng trầu cay chợ Chè chợ Côộc

Tìm về say nơi chợ Bến cuối năm*

Con nước đa mang tưới mát bến bờ

Dâng phù sa nuôi cây xanh lá

Đến mùa đơm hoa ra quả

Nhận về mình khúc lở khúc bồi

Cả đời sông tắm táp đời người

Tiếng cười vui lăn tròn con sóng

Chảy dài năm tháng chẳng nguôi

Đáy sâu ôm buồn đau lặng lẽ

4

Làng không có ngày thừa

Nhưng làng thiếu đất

Nhà ken nhà tựa lưng đấu cật

Tường san hô tường gạch nép vào nhau

Đá trôi làng không trôi

Linh khí đất trời có trong Xóm Câu từ thời mở đất

Gác chèo đàn ông uống rượu bàn chuyện lộng khơi

Đàn bà ống thấp ống cao chạy chợ

Cá Mú cá Chòe cá Chim cá Dở

Nước mắm cá Cơm ngọt lịm chưng vàng

Đòn tre uốn cong bước chân bịn rịn

Gánh hai đầu dòng sông

Cho con nít chân đất lọ lem tha hồ ngụp lặn

Tóc râu ngô thơm nắng đường quê

Có phải làng phì nhiêu nhân nghĩa

Nên tiếng cười muôn thuở phổng phao?

Ngày hội làng

Khói trầm đoàn tụ

Người lớn trẻ con xúm xít sân đình

Đèn hoa đăng kín sông kín bến

Nến vật vờ nhỏ giọt thâu đêm

Nhấp nháy mắt người mắt nến

Nhật Lệ rưng rưng

Chảy
Mang trong lòng nỗi đau vạn kỷ

Làng trong mắt tuổi thơ mướt xanh

Loi choi chiếc kẹo nhiều màu

Tóc ca rê con trai – bum bê con gái

———–
*chợ Bến Đồng Hới xưa bên sông Nhật Lệ

Lú nhú

Chân sáo

Dưới xù xì gốc me

Lá li ti xanh khoảng vắng trưa hè

Lấm tấm tiếng ve

Rắc đầy hoa phượng

Con gái mê đánh chuyền đánh chắt

Chơi ô quan ù mọi ù câm

Quần xắn gối lò cò trong hẻm vắng

Quên nấu cơm mẹ phạt nép góc nhà

Lũ con trai say đánh đáo đánh bi

Đội nắng đội mưa xuội chuồn đào dế

Bắt cá lia thia đuôi đỏ lựng bã trầu

Ngụp lặn cầu Bơi cầu dài cầu Ngắn

Chạy xe rè mòn vẹt tháng năm

Tuổi thơ làng vương vào giấc ngủ

Tiếng dạ thưa lẫn tiếng chuông chùa

Con gà đất le te ngày giáp tết

Tiếng pháo xuân ríu rít phút giao thừa

Tuổi thơ làng vương câu đối đỏ

Tranh làng Hồ che miếng vỡ gạch hồng

Ngói vảy cá rêu xanh lấm bụi

Ngọn đèn dầu lay lắt phía bên sông

     Đi gần đến bến đời người

Xế chiều mơ gặp nụ cười tuổi thơ

    Tóc đuôi gà biết ngẩn ngơ

Đôi mắt quên tuổi dại khờ lạ không

     Ngày xưa ai vẽ bông hồng

Bỏ quên nét lá cho lòng hoa đau

   Làng ơi! sau trước trước sau

Hồn tôi vẫn thế nhuốm màu quê hương

Phố biển

1

Tôi nhặt bóng phố xưa đặt lên Quảng Bình Quan

Lật trở không gian ký ức

Những ngã tư Cô Tám

Lê Trực – Xuân Bồ

Con hẻm

Nhấp nhô nắng mưa

Mềm mại ngược xuôi gánh hàng rong

Bánh rán bánh chì bánh bèo bánh ướt

Chén nước mắm chắt từ mắt biển

Cay nồng hương vị ớt xanh

Mờ ảo dáng cụ già tạc trên ghế đá

Âm thầm bấm đốt ngón tay

Bấm đốt dừa Trị Thiên lớn theo khát vọng

Cháy mặt sông

Nghiêng về bên kia Bến Hải

Mong ngày gặp mặt

Giấc mơ gần

Mà xa

Đường Lâm Úy người đàn bà ngồi đan bên ô cửa

Cuộn len lăn uể oải giữa đêm trăng

Năm mươi năm rồi còn không chiếc áo ?

Bác xích lô

Lim dim

Cây bàng lá đổ

Gốc đa phồn thực thời gian

Ông từ quét lá

Chòm râu như mái đình cong

Chiếc mũ lợp ngói vảy rồng

Khói trầm hương tần ngần quanh miếu mạo

Rêu phong dằng dặc phù vân kiếp người

Bao thế hệ đi không hết phố

Để cuộc đời mãi còn mắc nợ

2

Giọt cà phê

Chậm chạp rơi

Mưa bong bóng đuổi nhau ngoài hiên

Tôi đuổi theo con chữ

Con chữ vỡ òa

Giọt mưa vỡ òa

Thời gian đi qua vỡ òa trên Mũi Sác

Doi đất giữa ngã ba sông

Tôi gom lại hòa vào chén rượu

Chén rượu suốt ngày đầy vơi

Nắng say

Chiều đổ

Tôi buộc tôi vào góc phố

Nơi gót chân thiếu nữ mong manh

Dạo bước bên hồ thành cổ

Sau vòm liễu rũ mướt xanh

Đêm lạc lối

Theo gió

Tôi kiếm tìm ngôi sao xanh trên ngọn nồm khuya

3

Không phải có tuổi tỷ năm

Chỉ một giây sáng lên đọng mãi những ngôi sao màu trăng

Rót vào đêm công viên Vườn dương phía đông thành cổ

Dìu dặt bước chân

Dìu dặt vĩ cầm

Cho làng tôi dìu dặt

Mái tóc bồng thiếu nữ áo trắng bay

Họ hát như chưa từng được hát

Đùa vui như chưa từng được đùa vui

Đó là đêm lốc cốc tiếng rao người bán phở

Giọng Quảng Đông lơ lớ*

Gió đẩy mùi nước dùng len vào hẻm nhỏ

Xông lên mũi lũ trẻ con háu đói tuổi chín mười

Tiếng rao thắt vào gốc cây

Ám ảnh tuổi thơ từ bấy đến giờ

Ngày mai phố rộng và cao

Tiếng rao chỉ còn vọng trong lá thở

Rốn phố vào đêm

Tiệm bánh bao đon đả chào mời

Hủ tiếu dăng đầy

Mùi ngũ vị hương

Táo – ô mai – cam thảo

Mát lòng phố sắn dây Vĩnh Tuy

Khoai lang Đức Phổ

Bắp nếp bắp lòn Hoàn Lão lửa than

Chục Chạc chua thanh

Hồng Leo ngọt chát

  

Người bán người mua tươi rói nụ cười

Phố dày lên kỷ niệm

Gió đẩy ngọn nồm lên chợ

Tiệm bạc tiệm vàng phập phồng hơi thở

Nơi của hồi môn

Vắt ra từ mồ hôi và máu

Trao qua đổi lại trong không gian lạnh

Cái nhìn chẳng hề ngờ vực của người bán người mua

Ông thợ kim hoàn nheo mắt tìm thực hư sau ánh lửa

Thư viện ngửa mặt giữa phố

Con chữ ngọt lịm đường phèn

Dắt trí tưởng tượng vượt biên từ ngày ấy

Lứa tuổi khét mùi nắng biển

Tay xòe bình minh

Lật từng trang sách

Say cùng Võ Tòng đả hổ trên đồi Cảnh Dương

Theo thầy trò Tam Tạng thỉnh kinh Tây Trúc

Đêm trăng cởi truồng quỳ dưới gốc phượng già kết nghĩa vườn đào

Nam thanh nữ tú lặng lẽ trôi bên Sông Đông êm đềm

Háo hức trước Đất vỡ hoang

Mà không hiểu thấu vì sao xứ Tam Tòa tiếng chuông dài từ mặt                  trời lên đến mặt trời lên

Lại lặng lẽ tan vào thinh không

Chẳng đậu vai cổng vòm Gôtích

Nhà thờ mênh mang buồn ?

4

Nhà giàu cửa kính tường cao

Vắng hơi người trước cổng

Chỉ có giàn Tigôn hồng tươi màu yêu

Mùa dậy thì không đổi

Ông trợ – ông nghè da mồi râu trắng

Chống gậy trúc

Guốc mộc dạo quanh vườn

Những bậc túc nho búi tóc củ tó

Bên nhau ngâm ngợi chữ thánh hiền

Đêm

Ngày

Lo thế sự

Thế sự muôn đời to nhỏ khác nhau

Con người gieo nên con người tự gặt

Thị dân chống cửa gặp nhau

Hăm hở chào ngày mới

Nghèo

Sang

Bàn thờ sáng choang lư đồng ngày cúng giỗ

Người lớn uống rượu chén mắt trâu

Con nít nhường nhau bánh lá

Chén mắt trâu uống bao nhiêu để chùa chiền nghiêng ngả

Bánh lá mỏng tang cho nhận tấm lòng thơm

Nết đất nết người lặn trong đôi hổ đá

Trong sơn son thếp vàng

Dưới ngói vảy rồng đình làng Đồng Hải

Tết về

Ông bà khăn đóng áo the

Dung dăng cùng cháu con thắp hương mộ tổ

Vái ba vái cúi đầu bên mộ

Cầu liệt tổ liệt tông cho thiên hạ thái bình

Cho gia tộc mọi bề yên thấm

Sinh con như nấm mưa rào

Làm nghề cá tôm đầy lưới

Không biết dưới mồ bậc thiên cổ nghĩ sao

Người sống nghe mát lòng mát dạ

Bữa cơm chiều trong phố

Thong thả

Yên bình

Dĩa bống kho rim

Canh măng dưa cá nục hành ngò

Mắm trích mắm thu nước kho cá ngứa

Cơm gạo đỏ vàng ươm miếng cháy

Cồn cào da diết đến giờ

Đêm mùa hạ nhà nghèo mở toang hết cửa

Đón nồm lên

Ủ giấc mơ lành

5

Như nhà hiền triết

Phố ngày ấy trầm mặc

Chim về xây tổ

Trong bình yên

Của đất

Của trời

Của người quê nội

Chúng tôi lớn lên giữa  tim gió lào cát trắng

Khao khát trời xa

Nặng lòng với đất

Nơi ủ ấm hơi thở ông – bà – cha – mẹ  -anh – em

Nơi láng giềng

Bạn bè

Tối lửa tắt đèn

Ngày ấy tuổi thơ không biết buồn…


Ngoại ô

1

Bên kia cầu Dài

Bên kia cầu Đồng Cột

Ruộng chua nước mặn

Liêu xiêu vài chục nóc nhà

Năn lác lấn đồng lấn bãi

Lấn người làm ruộng lên bờ

Chiếc liềm quên mùa gặt hái

Đồng muối thừa nắng thừa gió

Diêm Hải Diêm Điền thiếu bát cơm đầy

Cái khổ mặn hơn muối đeo bám lưng gầy

Đeo bám  gốc cau vại nước

Đeo bám diêm dân

Những người dậy sớm hơn gà

Le te nón lá

Thả sáo

Đơm nò

Cất vó

Ngụp lặn thân cò

Bắt tép dính vào cọng cỏ

Băm bèo nuôi lợn

Đông lướt thướt trâu với người nghiêng ngả

Ngoại ô có lúa – có hoa

Chìm trong hương thơm ngày tết

Bừng lên lễ hội đánh cù

Con gái thôn quê gánh hàng hoa ra chợ

Để lại đuôi mắt bên đường

Nụ cười trên cỏ

Eo lưng

Nắng hiện

Chiều ngoại ô sau lũy tre làng

Khói trắng lang thang vào phố

Mang theo hương đồng rơm rạ

Mang theo mênh mang nỗi buồn

2

Cánh tay cát khổng lồ bên lưng sóng

Đường chân trời mây bông

Bảo Ninh

Chắn giữ biển đông

Người thưa đất rộng

Vẫn cao xanh dừa

Cao xanh điệu khúc tình ca

nhổ neo ra khơi đêm nay khi trăng mọc… *

Ngày nào thuyền cũng nhổ neo

Lưới chài vá chằng vá đụp

Biển động mất mùa canh râu tôm ruột bầu vợ chan chồng húp

Bắt được cá ngon mở tiệc mời làng

Cá tập tàng vợ đem bán chợ

Tích cóp dựng nhà dựng cửa

Cả làng cầm chèo

Cả làng đan lưới

Dệt nên mùa cá mùa tôm

Dệt nên xương rồng chang chang nắng

Những động cát no nê mùa gió lộng

Con trai vỡ giọng khúc khích bên chân sóng đêm hè

Ở đây mở mắt thấy biển

Mở mắt thấy cát

Biển xanh

Cát vàng

Cho miền quê như ngọc sáng ngoại ô

3

Đồng Thành mùa biển động lô xô ngàn con sóng

Làng nép cửa sông

Úp lên cát những mái nhà hình mắt lá khô cong

Lác đác chòi rớ theo con nước rặc ròng

Gặp gió chướng thuyền xoáy hình con ốc

Phận người mong manh

  

Làng bên biển

Bên sông

Mắm ruốc thơm nồng

Thấp thoáng cánh buồm vào lộng ra khơi

Ngàn năm không để lại đường mòn trên cát

Không để lại đường mòn trên sông

Chỉ để lại đêm đêm leo lắt ngọn lửa hồng

ầu ơ khúc hát

ru hời ru hỡi là ru

bên cạn thì chống bên su thì chèo

Ngoại ô

Hào phóng gió

Hào phóng hương đồng

Hào phóng biển đông

Hào phóng nắng

Không ồn ã

Bình dị

Cùng dòng sông diệu vợi

Đeo đẳng đời người

Như nụ hôn đầu

          Chương II

    
   Thời chưa xa


    
Lửa

1

Mười năm giải phóng chưa trọn một giấc mơ *

Hơi ấm chăn len không kịp ủ trên chiếc giường hạnh phúc

Đã nghe trống dục

Chiến tranh!

Mỹ tuyên bố trườn qua vĩ tuyến 17

Biến Bắc Việt trở về thời đồ đá

Ném con người ra khỏi hành tinh

Chiến tranh!

Những tội ác cộng lại

Những tội ác nhân lên

————

 * Ngày 18 – 8 – 1954 Đồng Hới giải phóng ngày  7- 1- 1965 Không quân Mỹ đánh vào thị xã

Cao hơn ngàn lần tội ác

Chỉ có kẻ xâm lăng thừa súng đạn

Chỉ có kẻ KHÔNG CON NGƯỜI

Mua

Bán

Đổi chác kiếm lời trên máu xương đồng loại

Bốn ngàn năm

Cuộc hành trình tổ tiên

Giặc đến nhà đàn bà cưỡi voi ra trận

Một thuở NAM QUỐC SƠN HÀ

Cuộc hành trình của cha

Cờ đỏ sao vàng

Đập tan xiềng xích

Xóa hết bạo tàn

Cho tháng Tám mùa thu bát cơm rưng rức

Lũy Thầy còn đây

Thành cổ năm nao mưa nắng phủ dày

Gót giày viễn chinh chín năm còn đó

Bóng thực dân cuốn gói chưa nhòa

Núp bóng thần Tự do

Người ta ngang nhiên che nắng hòa bình

Mở toang cửa

Treo bom lơ lửng sân nhà

Cuộc hành trình sau thế hệ ông cha

Chuyển động như dòng sông mùa lũ

Mang theo hồng tươi lòng tự trọng thuở khai sinh

Chảy

Bàu Tró âm thầm muôn lớp sóng sâu

Trào lên hòa lòng người ra trận

2

Thành phố khác thường

Pháo phòng không

Dựng thành lũy

Công viên

Bến chợ

Đình làng

Hầm trú ẩn

Giữa sân trường

Dưới bàn thờ cúng tổ

Hào giao thông loang lổ phố phường

Chợ không ai mặc cả

Trẻ con quên tiếng cười

Còi báo động trùm phố xá

Cao xạ

Súng trường

Pháo hải quân tung lên trời muôn ngàn viên đạn lửa

Đất và người Đồng Hới dậy sóng

Dòng sông quê dậy sóng

Biển đông dậy sóng

Đầu súng treo lá ngụy trang như cây nêu đuổi tà ma ngày tết!

Mịt mù khói bom

Mịt mù khói súng

Phố thành chảo rang

Đạn đan lưới lửa

Ngàn năm sau có thể nào quên

Phố quê tôi lá thư hỏa tốc trở thành vũ khí

Khăn quàng đỏ em thơ trở thành vũ khí

Mái chèo của mẹ trở thành vũ khí

Tiếng hô nhằm thẳng máy bay thù mà bắn trở thành vũ khí

Tất cả trở thành vũ khí ném cái chết vào mặt quân thù

Chiến tranh

Trẻ con người già sơ tán

Rồi

Tất cả sơ tán

Để lại phố vắng hơi người

Để lại bông hồng

Thao thức đợi ngày về


Ra đi

Chia tay không hề hẹn trước*

Trẻ già dắt díu nhau đi

Kìa ai gạt thầm nước mắt

Gì buồn hơn phút biệt li

Bóng người dạt về muôn nẻo

Bỏ lại ngọn nồm sau lưng

Thôn quê mái tranh dặt dẹo

Tiếng gà eo óc rưng rưng

Phố mới tên như cổ tích

Ba Đa – Đồng Trạng – Mù U

Xóm Cộn – Cồn Chùa – Thuận Đức**

Nôn nao chốn cũ mịt mù

Mọc lên trên cỏ hoang vu

Dăm mái chòi tranh bé tí

Sim mua nở tím quanh vườn

Đêm xuống bốn bề huyền bí

Người lớn đào hầm dựng nhà

Lo buồn giấu vào ruột đất

Trẻ con nằm đếm ngân hà

Tìm ngôi sao trời sáng nhất

Chia tay phố biển lên đây

Lẫn trong đồi cây khe suối

Lúp xúp nhà mọc nên làng

Ngắm mặt trời lên nhớ biển

Ngắm mặt trời lên nhớ người

Nhớ nơi chôn nhau cắt rốn

Nhớ khóm cúc vàng thược dược

Sân đình xác lựu đỏ hoe

Nhớ thương qua từng hơi thở

Màu da vóc dáng bạn bè

Phố xưa một thời quấn quýt

Bao giờ hết nhớ ngẩn ngơ

—————-

*Đêm 10 -2 – 1965 trên 7000 dân và 40 cơ quan đơn vị sơ tán khỏi thị xã ĐH chuẩn bị cho cuộc chống chiến tranh leo thang của không quân Mỹ (TL: 50 nămLLVTĐH)

** Tên làng mới nơi người Đồng Hới sơ tán thời chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ. Nay thuộc phường Đồng Sơn và xã Thuận Đức


Phố núi

1

Chuồn chuồn đuôi dài cán gáo

Cào cào khoác áo nhiều màu

Chim cu cúc cù mỗi sớm

Rủ tôi đi

Dắt tôi lên đồi sim

Đưa tôi lên đồi dâu

Cho tôi lần đầu nhìn mầu xanh bạt ngàn của lá

Những cánh hoa vừa quen vừa lạ

Phố núi gập ghềnh đá

Cá khe quẫy đuôi như gặp bạn thân

Cua cáy cởi trần

Lơ láo kiếm mồi không biết có người ngắm trộm

Ngả lưng cỏ biếc

Nằm đếm kiến bò

Những con kiến chưa một lần về biển sao mà đẹp thế

Ong vang cắn vàng con mắt

Dạy tôi hun khói đề phòng

Bụng đói lạc giữa rừng già

Dạy tôi biết tìm chọn quả

Gánh củi đau vai bên này

Dạy tôi xoay gánh vai kia

Mưa nắng ủ dột mái nhà

Dạy tôi đan tranh lợp lại

Tôi biết làm hầm chữ A

Biết tránh bom bi bom tạ

Biết băng qua vùng tọa độ

Hăm hở cắp sách đến trường

Kẻ thù không hiểu điều ấy!

2

Đường kim mụn vá

Mẹ khâu

Nỗi buồn chồng lên nhau

Nỗi lo chồng lên nhau

Nỗi đau chồng lên nhau

Chồng lên mảnh vá nhiều màu

Chồng lên sợi chỉ nhiều màu

Chồng lên năm tháng nát nhàu đường kim

Mẹ khâu

Đầm đìa nước mắt

Nước mắt đàn bà nuôi con thời chiến

Rủi may sống – chết khôn cùng

Nước mắt có máu người thân

Xanh lè lưỡi hái

B52 – pháo hạm biển đông

3

Sốt rét rừng

Vặt trụi mái tóc dài

Mẹ vẫn trồng trước nhà cây bồ kết

Cây đơm hoa và cây cho quả

Quả trĩu cành cha chẳng thấy về

Không bữa cơm nào mẹ no

Không giấc ngủ nào mẹ no

Chiếc áo sờn vai mặc đi mặc lại

Đêm nằm mơ tỉnh giấc ngỡ cha về

Mẹ lật đật tìm thay áo mới

Áo mới không mà người cũng không

Tái tê giấu ở đâu

Chỉ thấy mẹ cười

Như ngày đưa con ra phố

Mua đôi guốc gỗ

Mua gói kẹo chanh xanh – đỏ – tím – vàng

Đơn vị hành quân qua phố núi

Bộ đội vào làng như gió mùa thu

Đào hầm

Lợp nhà

Trồng thêm vồng khoai khóm mía

Vội vã lên đường ra trận

Để lại tươi rói mối tình

Bên giậu mồng tơi tim tím

Hẹn ngày về mà sao cứ biệt tăm

4

Quê mới ơi phố núi của ta ơi

Khi mặt trời lên từ biển

Dần khuất sau chóp núi U Bò

Từng phút từng giờ nặng hơn cối đá

Láng giềng nương tựa vào nhau

Như rừng cây xanh lá

Như rơm rạ ngày mùa

Củ sắn chia đôi

Bát cơm sẻ nửa

Gấp khúc đêm

Mơ bóng phố biển đông

Thương bà cụ

Lưng còng

Mót khoai trái vụ

Bẻ rành rành nấu nước uống qua mùa

Đêm

Mùa đông

Gió lùa

Hầm dẫy nước

Thèm miếng trầu cay

Nín tiếng thở dài

Thương trẻ làng mỗi chiều đến lớp

Đạn bom thù rình rập trái tim non!

Cuộc chiến trườn qua phố núi mỗi ngày   mỗi ngày máu đổ

Chi chít hố bom chi chít nỗi đau chi chít vòng trắng trên đầu

Đi qua mỗi ngày cây để lại xác lá và cho đời bao quả

Đôi khi con người không hiểu vì sao vị ngọt có đầu môi

Điều ấy chẳng quan trọng gì

Chỉ cần cây biết

Lá biết

Li ti rễ bám đất không nói nên lời

Lời của cây là quả

       Chương III


Âm vang cùng sóng biển

             

Huyền thoại

1

Trăng

Ôm động cát

Cỏ chông chông lăn vào chân sóng

Có chàng

Hát

Biển nghe

Muống biển nghe

Lá dương liễu cặm cụi đan cánh võng ru

Khúc nhạc trầm

Nồng cay

Gió

Nồng cay

Thăm thẳm mối tình

Như ngày

Máu ngực

Rỏ

Tràn bờ

Xung phong truy tìm biệt kích

Đánh lén đêm

Cửa biển Đồng Thành

Bóng

Chàng trai

Bên tượng đài

Như chùm tứ quý

Khoan thai

Nở

Tung tẩy

Múa

Kiêu hãnh

Cười trong gió

Tiếng cười

Tuổi hai mươi

Đêm tuần tra

Biển

2

Thủy lôi ken dày dòng sông

Tiếng gọi đò ơi thảng thốt

Một

Hai

Ba

Hàng trăm cột nước

Bốn

Năm

Sáu

Hàng ngàn cột nước

Rờn rợn bảy sắc cầu vồng trùm lên phố

Bom nổ

Thủy lôi nổ

Thủy lôi vật vờ đáy sông

Thần chết hù dọa

Không ngăn nổi

Tuổi trai phơi phới

Chở sức xuân trên những con đò

Ngược

Xuôi

Lướt sóng

Đưa bộ đội qua sông

Đưa hàng ra tiền tuyến

Đêm ngày bám biển

Đánh cá nuôi quân

Máy bay dầu có vạn lần

Ném thủy lôi quyết lấp dần sông xanh

Có dăng núi lửa đốt thành

Thuyền ta vẫn vượt thác ghềnh lên non

Ví như hạt cát trắng còn

Biển âm vang sóng buồm son không nhòa

3

Rồi một ngày

Sông thành chảo lửa

Phố tắt tiếng cười

Nhà đổ

Người đổ

Cột khói bom như quái vật khổng lồ vây lấy phố

Nhuốm đỏ chiến hào

Cao xạ bắn máy bay cao

Súng trường bắn máy bay thấp

Hầm sập

CON MA nhào

Phố phường rốc két cày nham nhở

THẦN SẤM mảnh vỡ lao xao

Su Mếch Cơ  *

Vói trời

Mắt xanh

Lấm lét nhìn o dân quân súng trường giương lê nhọn hoắt

Chiều

Gái dân quân chưa một lần nói lời yêu

Cùng trai làng chênh chao bến nước

Vuột bùn đất

Gót chân ngần lấp lóa dòng sông

Mái tóc lấp lóa dòng sông

Tiếng cười lan mặt sông lấp lóa

————–

*Thiếu tá phi công Mỹ  Rô Bớt Su Mếch Cơ  nhảy dù bị bắt sống ngày 11 – 2 – 1965 tại Đồng Hới trong trận đầu cuộc chiến  tranh leo thang ra Miền bắc

Đêm

Những ngón tay tìm nhau trong bóng tối

Hơi thở vội như lần đầu vụng trộm

Sâu thẳm nồng nàn

Lán trực chiến chim chuyền cành

Kìa ai quên áo bên triền cỏ xanh?

4

Thời gian

Tóc đen nhuốm bạc

Người đi đi mãi không về

Tình của lính vẫn muôn đời dào dạt

Ký ức một thời gian khó chẳng hề phai

Thời gian đi thành cổ chẳng đi

Cổng ba phía đón gió Nam – Đông – Bắc

Khoảng trời  vuông bao đời vẫn thế

Lọc nắng tươi cho đất vẹn nguyên màu

 Xưa tổ tiên gươm mài đá núi

 Lính ba trăm giữ thành khoét đất dựng nhà chạm hơi ấm ông cha*

 Canh giữ đất thiêng

 Điểm danh qua khói bom

 Trong gầm rú hỗn mang phản lực

 Dưới căn hầm đất lấp kín hai đầu

 Ngày ấy trong chiếc hầm chữ A dưới chân thành cổ

 Có người lính nghêu ngao hát

 Có người lính lơ ngơ viết thơ tình

 Có người lính lặng im học

 Tất cả như sóc

 Đuôi sóc thành vệt sáng trong túi bom khổng lồ

 Quân thù khiếp đảm

————-

* Đại đội 300 trực thuộc BCH quân sự thị xã chốt giữ thành cổ ĐH năm 1972


Thao thức

Phố bị cào bằng sau bao trận đánh

Cuộc chiến chưa tàn phố đã  lụi tan

Cây đa Chùa ông buồn như quên tuổi

Rễ xoắn đất khô lá trụi trơ cành

Giữa hai loạt bom tìm về với phố

Chẳng nhận ra miếu mạo chùa chiền

Chỉ thấy ngổn ngang bê tông gạch vỡ

Dòng sông xanh không một phút an nhiên


Mùng bốn tháng tư – một chín sáu lăm

Trăm người chết nỗi đau xiết kể

Để linh hồn oan đêm về trở lại

Mò mẫm mân mê gốc rễ đa làng

Tôi nhè nhẹ trên nền đất ông cha

Nhớ nôn nao bóng ngô đồng lối nhỏ

Nhớ bước chân lò cò đêm trăng lộng gió

Giàn đồng ca líu ríu tiếng chim non

Cuốn gia phả nhà ai ngửa mặt lên trời

Cháy sém bỏ quên bên góc đình Đồng Hải

Biết bao giờ người thân tìm gặp lại

Con chữ rồng con chữ phượng tổ tiên

Tôi bới tìm nền nhà mòn vẹt móng tay

Kỷ niệm còn lại viên bi bỏ quên đêm sơ tán

Chiếc bể cạn cha xây ngày con sinh 1 . 9. 5 . 2 vỡ rạn

Chẳng còn giọt nước nào để tôi soi lại phố xưa

Đêm trở về thao thức cùng nén nhang cháy đỏ

Thằng con trai trong tôi lần đầu biết yêu từ đó…

                         

Tuổi mười bảy

 1

Khi tôi khoác ba lô

Cây ổi trước sân nhà đã ra quả bói

Búp sâu kèn gặp gió đung đưa

Hoa trinh nữ tím chiều xứ sở

Tạm biệt bím tóc đuôi sam

Còn vương mùi hoa bưởi

Cho lời thương nhớ bay xa

Phút chót bên nhau dễ chừng ngộp thở

Đêm cuối thu trộn đều nhung nhớ

Một nửa mang đi

Một nửa giấu gốc vườn

Hương bưởi ủ dịu dàng sương phố núi

Biết mình đã lớn

Lần đầu kề vai

Hơi thở tìm nhau trong đêm dài

Biết mình đang yêu

Tình đầu non dại

Cho gió heo may năm ấy mãi không về


Chỉ còn đêm nay đôi ta sẽ chia tay

Đường quen lối vắng sánh bước tay cầm tay

Chỉ còn đêm nay anh cách xa nơi này

Dù có xa nhau đừng lãng quên nơi này *

Tuổi mười bảy say mê hát

Không biết cỏ cây bên đường rơm rớm phút chia tay

2

Đoàn quân nhấp nhô bóng núi

Sức trai phơi phới gió ngàn

Rừng già lất phất mưa bụi

Trường Sơn mắc võng xuân sang

Đồng đội hành quân quên tết

Lá dong biêng biếc lối mòn

Hoa chuối nở bừng sắc lửa

Chim rừng tỉnh giấc véo von

Đồng hương chiến trường tái ngộ

Lương khô nước suối chia đều

Dây đàn ghi ta lại bật

Tưng tưng những khúc tình ca

Bạn bè quây quần cùng hát

Cho nguôi đi nỗi nhớ nhà

Hẹn nhau sớm về Đồng Hới

Kỷ niệm trầm tích bến sông

———-        

 *Bài hát được thanh niên thời ấy ưa thích

Sóng biển ngàn năm vẫn vỗ

Có người đêm ngóng ngày mong

3

Dòng chữ khắc lên vỏ bi đông Mẹ ơi con khát !

Khắc lên vỏ cây đại ngàn ngày… tháng… năm …sinh

Khắc họ tên nguyên quán mình trước giờ súng nổ

Riêng nấm mồ lấp vội chẳng mang tên

Vội vàng lên đường

Quần nhau với địch

Không kịp ghi danh lên mộ chí đồng hương

Địa chỉ dấu trong trái tim người lính

Tiếng súng chẳng bao giờ tắt

Sau loạt bom có đứa không còn mắt để vuốt

Khe suối xa nước mắt gần nhỏ trên bờ môi đồng đội

Ngọn gió rừng đêm ấy lang thang

Dấu dép in trên vạn nẻo đường

Chân tóe máu mắt thâm quầng thiếu ngủ

Gối mỏi chân chồn tuổi mười bảy hề chi

Cùng đồng đội đi về nơi ánh lửa

Hoa đỏ trời và hoa đỏ phố

Phút cuối cùng đỏ ngực bạn bè tôi!

Rũ bụi chiến trường vẫn phong trần trận mạc

Đường về quê ngược bước hành quân

Người lính trẻ ngày xưa vẫn trẻ

Mắt búp bê nhấp nháy nắp ba lô

Niềm vui reo cùng mảnh lụa màu

Quà chiến trường bạn giành tặng mẹ

Mẹ đã khuất chiều hè năm ấy

Cánh đồng khô không kịp đón mưa về

Sau cuộc chiến còn lại cánh tay

Vui chuyện tiếu lâm thiếu hơi con gái

Chiếc nạng gỗ chông chênh ái ngại

Không biết giấu vào đâu khi bạn gái tỏ tình

Sau cuộc chiến vẫn đằng sau cuộc chiến

Còn bao thằng nằm lại không về

Ngơ ngác bay cùng bồng bênh mây trắng

Cùng lời thề tuổi mười bảy ngàn lau

             

      Chương IV


Lặn sâu vào đất


Viên gạch vỡ

1

Chiến tranh đi qua đổ nát

Ký ức rỉ máu

Nụ hoa

Ngập ngừng

Bên hố bom lở lói ken dày đá – đất – cỏ – dại

Chiến tranh đi qua

Nhẹ tênh ba lô

Túi rỗng xác ve mùa hạ

Bàn tay mây trắng

Trái tim thậm thình nhịp lạ

Dòng sông

Như tuổi thiếu thời

Úp mặt hít mùi thơ dại còn loang mặt nước

Nhớ rong rêu vóc dáng bạn bè

Trên nền phố cũ

Tìm em

Em đã đi xa

Bóng em nhòa lối nhỏ

Hồng tươi như máu và hoa

Chiến tranh đi qua

Đất quặn lòng thao thiết

Ngọn nồm quấn quýt người thân

Ngực căng bài ca

Viên

Gạch

Vỡ

Đất nước dư thừa cuộc chiến

Dẫm lên trên xác đạn bom

Tôi hiểu vì sao mẹ khóc

Vì sao bạn chẳng trở về

Vì sao môi em mím chặt

Vì sao tôi chạm vào tôi

Vườn nhà ai hoa hồng thắm đỏ

Ướp hồn vía phố long lanh

Như giọt sương

Trên nhành

Xuân

Rét

Ngọt

                  

2

Đêm gối đầu trên cát

Thơ thẩn đếm sao trời

Trăng dát vàng dát bạc

Nhớ một thời chơi vơi

Phố đìu hiu cỏ mọc

Bến lưa thưa bóng người

Đạn bom lẫn gạch vỡ

Thách thức và trêu ngươi

Trâu tìm về gặm cỏ

Người xin đất dựng nhà

Hòa bình máu vẫn đổ

Trên nền đất ông cha

Phố chưa sáng mầu da

Lại tấy lên nhức nhối

Thương quê tôi dạo ấy

Gập ghềnh con đường đi

Ai vô tình quên phố

Người Đồng Hới sao quên

Máu nước mắt đã đổ

Gốc rễ cây thêm bền

Ta cùng nhau xây lại

Thành phố trẻ bên sông

Ta bên em ươm lại

Triệu bông cúc bông hồng

Hoa đến mùa lại nở

Dạ lan thơm đêm dài

Bằng lăng tím nỗi nhớ

Xuân về khoe sắc mai

Phố mênh mang rộng mở

Phố ấm êm một nhà

Phố bồng bềnh thương nhớ

Phố cánh buồm khơi xa

Phố trên bàn tay trắng

Phố trên đôi chân trần

Phố thân cây máu ứa

Phố rũ bùn thanh tân

3

Di sản của nhà thơ là sợi tóc*

Rụng rơi mỗi ngày đau chiều gió trở

Bay hết cuộc hành trình mỏi mệt ngủ dưới tầng đất

Ngàn năm sau xanh trong giấc mơ

Trong ngón tay mềm thiếu nữ

Di sản của tôi nước mắt thời hậu chiến

Ứa ra trong ròng rã đạn bom đói nghèo chốn chôn rau

Thấm mạch nguồn cho bời bời cây quả

Cho vĩnh hằng bình yên

Di sản của bạn là nấm mồ

Thanh thản ngủ sau những ngày trận mạc

Là nắm xương đêm nằm nghe lá đổ

Cho người đang sống hiểu nhục vinh


Hồn vía phố             

1

Hơn một lần đi tìm hồn vía

Trong dư ba huyền ảo khói trầm hương

Làm sao thấy được giữa vô thường

Nhưng tôi tin vào hồn vía

Sức sống âm thầm trong đất

Không rõ dạng rõ hình hồn vía đó mà

Chùa Linh Quang chùa Phật Học còn đâu

Vẫn bịn rịn bao điều nhân nghĩa

Đình Đồng Hải năm dãy bàn thờ tự

Nhắc cháu con nhớ đến chốn Thành Hoàng

————

* ý thơ của nhà thơ Hoàng Vũ Thuật

Tiền khai khẩn hậu khai canh lập ấp

Công ơn cao chót đỉnh Thần Đinh

Nét chạm trổ long lân quy phượng

Nơi tôn nghiêm dạy biết sống ân tình

Hồn vía phố sáng bao gương tiết liệt

Vó ngựa sa trường gươm giáo chẳng nề chi

Điệu hò đưa linh trầm buồn nức nở

Chèo cạn múa bông thăm thẳm bóng người về

Hò mái nện mái khoan hò kéo lưới

Mãi âm vang khoan nhặt thách nắng mưa

Mùa lễ hội lục niên cạnh độ

Nhọn tím Muống vàng Muống đỏ Muống xanh

Làng Hải làng Hà đua tranh cùng Phú Địa

Mơ ngày mùa tôm cá chật khoang thuyền

Hơn một lần đi tìm hồn vía phố

Cái đi qua còn lại thảy ngọn ngành

 2

Phố đêm nay không ngủ

Dài vô tận vô cùng

Hình như mầm cây nhú

Giữa đất trời mênh mông

Vá mầu xanh cho đồi

Anh thương binh gieo hạt

Thân vắt kiệt mồ hôi

Búp thông xòe ngơ ngác

Lão ngư tìm biển bạc

Đánh bắt cá xa bờ

Cả một đời khao khát

Giữa sóng cồn bão xô

Mẹ ươm cây chắn cát

Chăm chút vạn mầm non

Tóc bạc như sóng bạc

Liêu xiêu mà sắt son

Cơm độn sắn độn ngô

Canh rau dền rau muống

Bao giờ lúa đầy bồ

Người đời thôi nhìn xuống?

3

Bây giờ ánh điện màu dư thừa trên phố

Trên tầng cao đại lộ

Những nóc nhà củ tỏi củ hành

Váy ngắn váy dài môi đỏ mắt xanh

Tóc duỗi tóc xù ngược xuôi hứng gió

Người lắm tiền tập nheo mắt to nhỏ

Tập vung tay tập nói tập làm sang

Mùi nước hoa hàng ngoại tràn lan

Đắt và thơm tận cùng thăm thẳm

Cậu ấm cô chiêu môi hồng má thắm

Điệu đàng vác mặt lên trời

Quên cứt trâu mái rạ cây rơm

Nơi đẻ ra hạt lúa

Đẻ ra tổ tiên

Đẻ ra mình

Không biết nhặt đâu thứ đạo đức – văn minh

Gặp người ăn xin quay lưng chun mũi

Sau cái phẩy tay sau những lời hất hủi

Họ nâng li – Uống cạn – Trăm phần trăm

Li rượu cụng vào đêm

Ta chạm hồn vía phố!

4

Cuộc sống làm con người thay đổi là chuyện thường

Đến mức đánh mất mình là không thể

Như gió biển không thể là gió núi

Rừng đại ngàn không thể cỏ trong vườn

Kẻ hai mặt không thể gọi hoàn lương

Không thể nhân danh làm cán cân nhân loại

Kỳ lạ thay đời vẫn chường ra đấy

Những mặt mo sân khấu vụng về

Mới hôm qua củ sắn chia đôi

Bạn lưu tồn quần rách áo vá

Nay rượu tây bĩu môi chê nem chả

Bàn tay mềm hờ hững trước người thân

Mở mồm ra nói chuyện thương dân

Biết kiệm – cần – chí – công – liêm – chính

Khi lặng tiếng so bì toan tính

Chạy chọt – ăn gian – xu nịnh – kiếm lời

Li rượu cụng vào đêm

Ta chạm hồn vía phố!

5

Bạn bè sống chết nơi đâu

Không cùng tôi chạm hồn vía phố

Tiếng li lanh canh nhớ ngày súng nổ

Trên điểm chốt Dốc Miếu Cồn Tiên

Bên sông Thạch Hãn

Gốc đông nam Thành cổ năm nào

Trở về ngực nở đầy sao

Một lứa bên sông mươi ông đại tá

Dăm bảy chàng tiến sỹ giáo sư

Hàng trăm người hư chân hỏng mắt   

Đồng đội hàng ngàn anh lặng lẽ không à ơi thật giả

Nhắc chuyện vui lại khóc

Nhắc chuyện buồn lại cười

Thằng sống nhớ tuổi đôi mươi

Thằng chết làm sao nhớ được

Đời là cuộc chơi không có thấp cao

Chỉ có hai đầu thiên đàng – địa ngục

Li rượu tưới bến sông

Nơi ngày xưa chúng mình tắm nắng

Tưới trong đất trong cồn cào xa vắng

Trong yêu thương đất nước của mình

Li rượu cụng vào đêm

Ta chạm hồn vía phố!

      Chương V


Chảy suốt cuộc đời

           

        Độc thoại

1

Những con sóng đuổi nhau

Dịu êm và cuồng nộ

Ngàn năm chỉ một màu

Gặp được nhau không dễ

Thương dòng sông tìm biển

Gửi gắm lời sông con

Sông nói lời của nước

Tai biển nghe gió mòn

Chim hải âu bói cá

Ngược sóng bay chập chờn

Thả tiếng kêu vội vã

Giữa biển trời trống trơn

Ta làm sao hiểu được

Biển nông sâu là bao

Uy quyền và thần bí

Khổ đau và gian lao

Nào uống thêm chén nữa

Rượu hết cũng chẳng sao

Chai rỗng thêm nước mặn

Sông gần mà biển xa

 2

Ngày mai ngày mai nữa

Em còn giận ta không

Đừng trách chi đốm lửa

Không đủ sức ủ hồng

Chẳng còn gì cho em

Ngoài ngu ngơ khờ dại

Ngoài vòng tay êm ái

Theo tháng ngày đi xa

Em nhé đừng giận ta

Như vòng quay của lá

Em thay ta ươm quả

Cho phố xanh như là

Như là bao dự định

Ngày chúng mình yêu nhau

3

Cùng bạn bè bát phố

Ngắm người xe lại qua

Vô tình cơn mưa đổ

Hình như mắt bạn nhòa

Như bạn nhớ mầu hoa

Nhớ chi mà nhớ mãi

Sao ngày xưa không hái

Ướp trong mây gửi trời

Niềm vui giữa cuộc đời

Sao lại không bạn nhỉ

Phố mùa thay áo mới

Nước mắt rơi – hoa rơi

Rồi lại cười khao khát

Cho thời gian đừng đi

Mà nắng chiều chẳng đứng

Gió rủ rê thầm thì

Thầm thì nghe em hát

Phố nghiêng mình gương soi

4

Tự độc thoại với mình

Còn gì buồn hơn thế

Lời nói thật khó nghe

Người tin người chẳng dễ

Nhà chắc nhờ nền móng

Nước vững dựa lòng dân

Chữ tín mới là trọng

Hết thảy đều bọt bèo

Hết thảy đều bay vèo

Không mang theo xuống đất

 

Niệm khúc

1

Vua xuống ruộng cấy cày

Theo bước chân trâu

Mưa nắng dãi dầu

Biết thương dân bùn nâu áo rách

Công chúa trồng dâu dệt vải

Bén hơi người chài lưới ven sông

Cha giống RỒNG mẹ giống TIÊN

Sinh con đẻ cái

Ngàn năm nặng nghĩa ĐỒNG BÀO

Nước có giặc cùng đi đánh giặc

Biên thùy một thuở gian lao

Có cơm cùng ăn

Có áo cùng mặc

Tướng quân trên dưới một lòng

Giữ yên bờ cõi

Từ thời mở đất

Tình người đã muối mặn gừng cay

Mỗi vòng quay mặt trời

Đất nước mình đã thế

Cháu con tự hào là điều không dễ

Nước có một vua

Dân có triệu người

Ngày mới từ thời mở đất

Muôn vạn biến thiên cũng chỉ giành ủ mật

Cho cháu con giống nòi

Dấu voi đi qua

Vó ngựa đi qua

Bom đạn đi qua

Nụ cười ở lại

Chưa bao giờ đất nước mình đẹp thế này đâu

Chưa bao giờ Đồng Hới quê mình đẹp thế này đâu

Cái giá ông cha ta trả

Bằng trời cao

Bằng cả đất sâu

Phố quê tôi có bao cuộc chia ly

Bao ngôi nhà cháy đi dựng lại

Bao bát cơm đứng đũa lạnh tanh

Bao năm tháng làm sao kể xiết ?

Ba mươi năm phố lại tinh khôi

Lại nước mắt lại nụ cười nóng hổi

Hình chữ S không còn gạch nối

Đất nước mình chan chứa máu và hoa

2

Chiếc mũ vải mềm vẫn còn vành trăng tròn

Đôi dép cao su đã vẹt mòn trăng khuyết

Bên mấy đốt xương nằm sâu đáy huyệt

Đồng đội rưng rưng xếp lại mang về

Bao bạn bè yên nghỉ nơi đâu

Đồng Tháp Mười Tây nguyên Quảng Trị

Trên đồi cao hay dưới thung sâu

Sao không báo mộng để cùng nhau đoàn tụ

Lời thề chẳng bao giờ uốn cong

Để bạn tôi mang tình yêu của mình đi thẳng

Đi thì đi xin nhớ đường về

Đừng quên mang theo chùm hoa rừng trắng

Hoa rừng trắng muôn đời vẫn nở

Đất nước binh đao sống chết khôn lường

Non tơ cỏ non tơ trời non tơ nước

Một cõi yên bình một cõi nhớ người ơi

Nhớ ngày xưa máu chảy

Gợi lên khúc ruột mềm

3

Tôi bên em giữa lòng Đồng Hới

Hai tay ôm cả vạn mai vàng

Như thấy phố in hình trên vỏ hến

Biển ngàn năm quất sóng có hề chi

Cát trong cát vẫn chai lỳ gió bão

Lá rừng xanh như thế tự lúc nào

Xương rồng cứ xây hoa và nở

Câu hát ru cửa biển trăng treo

Nghe náo nức chim về nhặt nắng

Giữa vòm cây líu ríu mải mê đan

Lời cỏ thắm vọng từ lòng đất

Xa rất xa gần cũng rất gần

Như hơi thở bao người đã mất

Xin lặng nghe và hãy nhẹ bước chân

Đi về phía tượng đài đất nước

Nghiêng mình bên mẹ Việt Nam

Nghe gió vọng bức thư huyết đỏ

Trước khi chết một phút vẫn cười   (1)

Hàng triệu người mãi mãi tuổi đôi mươi

Tuổi đôi mươi hàng triệu người bất tử!

Tôi bên em giữa lòng phố mới

Hai tay ôm cả vạn mai vàng

Chầm chậm bước trên đường Hàn Mạc Tử

Nghe bâng khuâng  Phố nhỏ động cành dừa (2)

Mắt ướt đẫm Đêm làng Đất làng Nước (3)

Nhớ cụ già Địa Chí đã quy tiên ( 4 )

Mai vàng tỉnh giấc vào xuân

Tôi bên em với tần ngần nụ hoa

Trời xanh cho phố nuột nà

Cho lời niệm khúc đừng là lời mây

Dầm dề đông lạnh hao gầy

Xôn xao xuân mới đong đầy niềm tin

Phố bên sông có soi hình

Cho tôi tìm lại bóng mình ngày xưa…

 ( 1  ) Thư viết bằng máu trong nhà lao Đồng Hới của anh hùng liệt sỹ Quách Xuân Kỳ.

(Đi qua hai cuộc kháng chiến Bảo vệ tổ quốc Thành phố ĐH có 7.326 thanh niên tòng quân. 1.191 liệt sỹ   739 thương binh.)

( 2 ) Trích trong bài thơ  Đồng Hới của nhà thơ Xuân Hoàng

(3)  Tên bài thơ của nhà thơ Hải Kỳ

( 4 ) Cụ Nguyễn Tú nhà nghiên cứu văn hóa Đồng Hới- Quảng Bình tác giả nhiều bộ sách quý  

 

Tiếng vọng

4

Năm Nhâm Thìn 1.9.5.2 tại nhà thương Đồng Hới

Mẹ nhọc nhằn sinh tôi

Lớn lên hơn một lần vuốt mắt đồng đội

Lỗi nhiều hơn sợi bạc trên đầu

Nội kể:

Con người ta khóc ba tháng mười ngày

Cháu ba trăm sáu mươi lăm ngày đêm nào cũng khóc

Trẻ sơ sinh nước mắt chẳng bao nhiêu

Mình chưa khóc đã ướt dầm như đái

Con trai Nhâm Thìn khó nuôi là phải

Nội gửi tên cháu vào chùa nương cửa phật

Thầy Đề dạy vỡ lòng thấp như lóng mía

Phạt học trò  quỳ xơ mít gốc nhà

Bạn cùng lứa chữ đứa nào cũng hoa

Cháu gà bới tìm sâu trong vườn lá

Cha kể:

Khi có lỗi Người bắt nằm úp mặt

Đặt roi mây ngay ngắn trên lưng

Chưa kịp lên roi con sà lòng mẹ

Cha lắc đầu liệu sau có nên người

Mẹ kể:

Mỗi lần đưa con ra quê thăm ngoại

Cậu dì khen thằng nhỏ ngoan hiền

Chập choạng chiều ngồi trên cây gạo

Đợi đêm về bắt sáo –  cả nhà nghiêng

            Bây giờ duyên nợ cùng thơ

      Lang thang lặn tứ bên bờ sông xanh

           Chim chiều về núi muộn màng

      Mỏng tang tiếng hót đầu làng nhẹ tênh

          Sao khuya ngủ dãi ngân hà

      Tôi tìm tôi hạt phù sa cuối dòng

          Đời là có có không không

      Biết phù du cứ đèo bồng lạ chưa

          Biển ru đồng vọng trăng mờ

      Tôi theo còng gió khóc bờ cát đêm

          `

         Cao xa trời nở ngàn sao

      Li ti tôi với giữa bao nổi chìm

          Tờ thơ  góp nhặt cho mình

      Nhóm lên đốm lửa soi hình phố xưa

5

Bụi thời gian phủ dày như cỏ

Cỏ muôn loài

Sao tường tận ngọn cành

Bụi thời gian trên em

Trên tôi

Cỏ đan lên em

Lên tôi

Bên nhau trở về cát bụi

Dế mèn dế trủi

Lại cùng về tấu khúc ca mưa

Rồi âm thầm nói lời của đất

Đất mới có lời nói thật

Cỏ mới có lời nói thật

Cho tiếng cười

Đất

Cỏ

Sinh sôi

Ngày mai

Cây hoa hồng vẫn trồng trước ngõ

Chưng trong chậu sứ trắng xanh

Cánh lụa dịu mềm cùng mùi hương quý phái

Kiêu sa

Hình trái tim thiếu nữ

Như khúc tang tình của biển

Lấp lánh san hô

Mắt lá diệu kỳ

Ngàn năm sau

Phố vẫn không già

Đồng Hới nhịp sống ngân rung lồng ngực trẻ

Ngày mai

Mãi còn nghiên mực xanh Nhật Lệ

Mãi còn tháp bút Mâu Sơn

Mãi còn Bàu Tró

Lũy Thầy – Thành cổ linh thiêng

Xin lạy đất

Lạy trời

Lạy phố

Lạy bốn phương – tám hướng – lạy người

Người đang sống và người đã khuất

Lạy những mái nhà như măng mọc bên sông…

                        

Đồng Hới khúc huyền tưởng

  NXB Hội Nhà Văn – 2010

RELATED ARTICLES

SINH NHẬT MÙA THU

NGUYỄN TRỌNG TẠO SINH NHẬT MÙA THU Tặng Em Ai giấu trong màu thu Bông cúc xanh tháng bảy Nhìn cánh hoa anh thấy Thu về cùng gió xanh Ai giấu...

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

BỐ VÀ CON

NGUYỄN TRỌNG TẠO Tặng con và bố Tú Con gọi nồng nàn tiếng bố Bố cưng gái rượu yêu kiều  Rồi con thành bà nội ngoại Bố mãi gọi...

1 COMMENT

  1. Ôi, thời gian đã đủ dài để người lính Xã Hội Chủ Nghĩa có thể tự hào về những hy sinh mất mát không thể tưởng tượng được để lập nên những thành tích giải phóng, đánh đuổi dân chủ tư bẩn, thành tích lập nên một chế độ độc đảng toàn trị, và xác lập 1 nền tảng giá trị đạo đức mới, đạo đức cách mạng, trong đó mạng sống con người không đáng cọng cỏ .

    Và những câu thơ mất ngủ như thế này

    “Nước có một vua”

    Nếu tất cả mọi người đều tin vào những điều dối trá, những điều đó có trở thành sự thật được không ? Bài “trường ca” này chứng minh là “được”, một cách rất thuyết phục, bằng ngôn ngữ riêng của thơ ca .

    Tuyệt vời!

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -

Most Popular

SINH NHẬT MÙA THU

NGUYỄN TRỌNG TẠO SINH NHẬT MÙA THU Tặng Em Ai giấu trong màu thu Bông cúc xanh tháng bảy Nhìn cánh hoa anh thấy Thu về cùng gió xanh Ai giấu...

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

BỐ VÀ CON

NGUYỄN TRỌNG TẠO Tặng con và bố Tú Con gọi nồng nàn tiếng bố Bố cưng gái rượu yêu kiều  Rồi con thành bà nội ngoại Bố mãi gọi...

KHI XÃ HỘI XUỐNG CẤP, NHÀ THƠ – NGƯỜI Ở ĐÂU?

NGUYỄN TRỌNG TẠO (Nguyễn Đức Tùng thực hiện) Nguyễn Đức Tùng: Rất vui được trò chuyện với anh Nguyễn Trọng Tạo, chàng thi sĩ lãng mạn...

Recent Comments

loctran on THỜI MẠT
Đào Nguyên Lan on THƠ NGUYỄN NGỌC VƯỢNG
tamnguyenxuan55gmail.com on 3 TẢN VĂN CỦA ĐẬU THỊ THƯƠNG
Vương on ĐẤT NƯỚC TÔI
Nguyễn Hoàng Sơn on NHÀ THƠ NGUYỄN DUY VỀ LÀNG
tu sinh on BA THẰNG BẠN
Nguyễn Thanh Cừ on TỔNG THỐNG
Trần Anh Dũng on THƠ ĐẶNG LƯU SAN
Nguyễn Ngọc Phong on “SUY NGẪM” CỦA LÊ THANH DŨNG
Hoàng Trí on NGỤM CHÁO LÚ
Trâu Hà Tĩnh on BA CÂU HỎI CHO HOÀNG HƯNG
sonnghithu@gmail.com on NGƯỜI VỀ TRƯỜNG SA
phamducquy on THƠ VÕ THANH AN
trần vũ long on THƠ VÕ THANH AN
Nguyễn Trường Sơn on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
TRẦN NHUỆ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Nguyễn Thanh Cừ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Lê Kinh Thắng - Tham tán Thương mại tại Nam Phi on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Lê Anh Phong - TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Nguyễn Thị Bích Lài - Đồng hương của hai người hiện ở TP. Pleiku - tỉnh Gialai – Pleiku. on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Phạm Đông on VĂN TẾ CÂY HÀ NỘI
Nguyễn Thanh Cừ on ĐỐI THOẠI VỚI LÝ QUANG DIỆU
Nguyễn Thanh Cừ on XIN ĐỪNG ĐỤNG VÀO CÂY…
Người lái đò on ĐANG SỐNG MÀ ĐÃ BẢO TÀNG…
Phan Thai Duc Hieu on THÂN PHỤ TÔI
THUYTANTHUYTRUONG on TUYẾT NGA
jamesnguyen on CON TUYẾT
jamesnguyen on KIẾP HÀI NHI
Khanh nguyen on NẾU NHƯ KHÔNG… NẾU
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Pham Tien Cat on NGUYỄN HOA VÀ THƠ
Anh Nguyên on CÁI ĐINH ỐC
Nguyễn Thanh Cừ (Hà Nội) on NGUYỄN TRỌNG TẠO HAY ÔNG “ĐỦ MÓN, 5 SAY”
phạm Dũng on SUY NGHĨ VỀ HÒA HỢP
Nguyễn Thị Long on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
nguyễn thị thanh minh on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on VĨNH BIỆT NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG SÁNG
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on KHÚC HÁT SÔNG QUÊ – BÀI CA CỦA MỌI NGƯỜI
Lâm Bích Thủy on THƠ VALENTINE 2014
Anh Nguyên on THƠ VALENTINE 2014
Pham Tuấn Thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguyễn Tiến Dũng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Phạm Trường Thi on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phạm tuấn thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguoi mien nui on QUYẾT LIỆT LÀ… TAN VỠ
Nguyễn Mộng Nhưng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phó thường dân on NGUY CƠ TỪ TRUNG QUỐC
thời đại khoa học on GẶP TƯỚNG GIÁP VÀ NGẪM VỀ NGƯỜI
Nỗi buồn hoa phượng on TRUYỆN CỰC NGẮN: BIẾU SÁCH
Gloomy 1721979 on KINH SÁCH CỦA NƯỚC VỆ
Dân gian: "Nhà văn nói láo, nhà báo nói phét" on NƯỚC ICELAND KÍNH TRỌNG NHẤT NGHỀ VIẾT VĂN
Hoạ sĩ Trần Thị Bích Huệ on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Huỳnh Văn Úc on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Van Duc on HOA MẠC TRẮNG
nguyễncamgiang@yahoo.com.vn on NHỮNG CÁI CHẾT TỨC TƯỞI CỦA NHÀ VĂN
Danh Hiếu on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Nhan Van on HỒI KÝ CA SĨ
Bà Ngoại on HỒI KÝ CA SĨ
Văn Nhân. on HỒI KÝ CA SĨ
Dungquy on HỒI KÝ CA SĨ
Người nhà quê on SUY NGẪM CỦA LÊ THANH DŨNG
nguyenvan on TÔI YÊU VIỆT NAM
Thanh Minh on TÔI YÊU VIỆT NAM
Hoàng Lãng Thụy on INRASARA BÌNH BÀI THƠ “CHIA”
Đỗ Cảnh Thìn on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
ANH NGUYỄN on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Nguyễn thanh Hà on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Thanh nien nghiem tuc on ĐẶNG HUY VĂN DẶN PHƯƠNG UYÊN
Hà quang Minh on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Trọng Hoàng on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Văn Nhân. on HỌC LÀM QUAN
vũ thảo on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on HỌC LÀM QUAN
Nguoi lam thue on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
nguyenvan on HỌC LÀM QUAN
GÀ QUÊ on HỌC LÀM QUAN
montaukmosquito on HỌC LÀM QUAN
Phạm Lưu Vũ on KHÔNG ĐỀ 72
Hạnh Nhung on KHÔNG ĐỀ 72
dinhqn on KHÔNG ĐỀ 72
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Khánh Minh on KHÔNG ĐỀ 72
Nhị Mai on KHÔNG ĐỀ 72
Bá Tiến on TUYẾT NGA
Thanh Minh on TUYẾT NGA
HOÀNG TRƯỜNG SA on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Gloomy 1721979 on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Thập tứ đại ngu. on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
mai thanh sơn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Hồ Muôn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
ANH NGUYỄN on LƯU MANH KẺ CHỢ
ANH NGUYỄN on CHÙM THƠ BIỂN
Thanh Minh on LƯU MANH KẺ CHỢ
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Vũ Xuân Tửu on LƯU MANH KẺ CHỢ
luong thien on LƯU MANH KẺ CHỢ
nguyenvan on LƯU MANH KẺ CHỢ
Phan Thế Thủy on LƯU MANH KẺ CHỢ
T. A. T on THÂN PHỤ TÔI
Lê văn Minh on THÂN PHỤ TÔI
Tô Lê Sơn on THÂN PHỤ TÔI
ANH NGUYỄN on SẮC DỤC
Đỗ Duy Văn on THÂN PHỤ TÔI
Lưu Đinh Anh on SẮC DỤC
hao hao on THÂN PHỤ TÔI
nguyenvan on 23 TẦNG NGƯỜI
Văn Trường Lưu on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Hoàng Văn Hoan on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Trần Thị Bích Huệ on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
nguyen van lung on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Ngô Văn Hải on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Phan Huy Vũ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Trần Thị Bích Huệ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Nguyễn Hữu Đức on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
Nguyễn Thị Chinh on VĂN CAO: TRƯƠNG CHI LÀ TÔI ĐẤY
Nguyen Van Nam on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
Thanh Minh on GIA PHONG XỨ NGHỆ
NGUYỄN VĂN ĐOÀN on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
LÒ LÃO NÔNG/NGUYỄN ĐỨC TOAN on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
(Vẫn là) Cháu ngoan Bác Hồ. on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
nguyễn văn Đức on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người nhà quê on GIA PHONG XỨ NGHỆ
Nguyễn Đắc Vinh on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Ngọc Rô on CÒN ĐÂU SÔNG NHUỆ NGÀY XƯA
Giời Ơi on GIA PHONG XỨ NGHỆ
T Nguyen on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Ha Dinh Van on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Muathuhanoi on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Người VN Yêu Nước on CỦA CE’SAR XIN TRẢ LẠI CHO CE’SAR
nguyenvan on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Nguyên on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Ông Đồ xứ Nghệ on HOÀNG SA LÀ ĐÂU HỞ NGOẠI?
Bác Hồ sống mãi trong sự cay đắng cùa chúng ta! on SỰ NHẦM LẪN LỜI CA “GỬI NGƯỜI EM GÁI MIỀN NAM”
mai ngoc on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Trịnh Công Tiến on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Khách qua đường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đỗ Duy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hà Văn Thịnh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Tăng Bá Hùng on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
trần cường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
phạm văn Lâm on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Hoàng on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hoàng Thiên Thanh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Gia đình Liệt sĩ chống Pháp, chống Mỹ on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
thiên đường XHCN on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Gia Linh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Trường Sơn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Văn An on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Nguyễn Văn An on MINH VƯƠNG
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
ANH NGUYỄN on THƠ XƯA CHƯA CŨ
Biết Tuốt on CHÂN DUNG PHÁC THẢO
Thanh Minh on TUYỆT THỰC
Công Trình on TRƯỜNG SA LÀNG TA
ĐoànhĐoành@ on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
Anh Hoa on TUYỆT THỰC
tù nhân lương tâm on TUYỆT THỰC
mai ngoc on TRƯỜNG SA LÀNG TA
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
kieuhung on TUYỆT THỰC
buncuoiwa on TUYỆT THỰC
Bà Ngoại on PHẠM DUY VÀ TỐ HỮU
Nguyễn Trường Sơn on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Khúc hát sông quê on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Cùng là người HN on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Văn Đức on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
Hoàng Xuân Thảo on THƠ CHO THIẾU NHI: CHÂN VÀ CÁNH
Hoàng Xuân Thảo on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
ĐoànhĐoành@ on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Trần Thường Kiệt on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Trần Thường Kiệt on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Cai nuoc minh no the on LỄ TANG ÔNG HỒ ĐỨC VIỆT
Công Luận on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Phạm Lưu Vũ on LIÊN HOAN THƠ TẠI PHÁP
Hoàng Khải on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
truclamthientruongy on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Móng Rồng on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trần Dân Đen on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trương Duy Nhì on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Hiên ngang, sáng ngời.... on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Triời mô xanh bằng trời Can Lộc on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Phạm Hồng Thái on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Người VN Yêu Nước on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Hồn Ma Võ Văn Kiệt on NGUYỄN KHOA ĐIỀM: SỰ TẦM THƯỜNG
HTvinh on SẮC DỤC
hát xẩm xứ nghệ on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on THƠ LÊ TUẤN LỘC
Nhân Văn Giai Phẩm on NGƯỜI MÊ VĂN HỌC BA LAN
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
D.Nhật Lệ on TÀI – TAI
3 Dê (tên tục Nguyễn Mười-Tạ Dũng, huý tự Nguyễn Chí Dũng) on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
park gil oung on ÁO LỤA VÀ HOA SEN
Người sông Tiền on VĨNH BIỆT NGƯỜI VỀ SÔNG TƯƠNG
Dương Diệu Minh on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
Phương Xa Ty on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
hát xẩm xứ nghệ on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Văn Đức on HUYỀN BÍ VÂN KIỀU
Lương Dũng Hà on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC THƠ LÊ THÁI SƠN
xuân thơm on TẠI SAO VIỆT NAM?
Tran Kim Phuong on CHUYỆN TẮM TIÊN
Văn Đức on DỊU DÀNG
Bà thành on CHUYỆN TẮM TIÊN
Khách qua đường on GẶP GỠ THÁNG TƯ
mai ngoc on C’EST LA VIE! (*)
Nguyễn Hữu Cường on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
PHƯƠNG NAM on 4 PHÚT TUYỆT VỜI
Bất công on C’EST LA VIE! (*)
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
nguyễn xuân on THƠ BÙI MAI HẠNH
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
Vinh on BÁC SĨ THÚ Y
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hát xẩm xứ nghệ on THƠ MỚI CỦA LÊ HUY MẬU
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
Vũ Đức Thắng on NGUYỄN PHAN HÁCH VÀ TÔI
nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hội những người ko được giải là đây on CHÙM THƠ PHẠM ĐƯƠNG
V. Đ. on NGẪU HỨNG
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
ChâuDiên on CỬA LÒ QUÊ CHA
Văn Đức on CỬA LÒ QUÊ CHA
phạm hữu đăng đạt on THẾ HỆ TÔI, MỘT THẾ HỆ CÚI ĐẦU
VIỆT HƯNG on CỬA LÒ QUÊ CHA
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
Biển Đen on THỦ PHẠM
Tiến Hùng on THỦ PHẠM
Người VN Yêu Nước on THỦ PHẠM
Dinh Trung on THỦ PHẠM
Phạm Lưu Vũ on THỦ PHẠM
c on NHÂN DÂN
Văn Đức on CHIẾN TRANH