Thứ Ba, Tháng Sáu 15, 2021
Home Bài của bạn KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY

KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY

Truyện ngắn của NGUYỄN VIỆT HÒA

Ảnh chỉ để minh họa
Ảnh chỉ để minh họa

NTT: Nguyễn Việt Hòa là giáo viên, quê Yên Thành, Nghệ An. Truyện ngắn này đã in trên báo Văn Nghệ (3.3.2012), và anh muốn đăng tiếp trên NTT. Một câu chuyện có trạng huống khá éo le, nhiều chi tiết bất ngờ… với sự dẫn dắt chân thực của tác giả. Đọc xong, ngay người đọc cũng bất ngờ trong xúc động và thương cảm. Xin giới thiệu cùng bạn. 

Vết thương tái phát, sức khỏe ông Nhân yếu hẳn đi. Ông được cấp trên giải quyết cho nghỉ hưu trước tuổi. Về hưu, hưởng lương hàm đại tá, ông có thể vui thú cùng bạn bầu sau một đời binh nghiệp. Nhưng tính ông không thích nhàn hạ. Ông vẫn gắng gượng với tất cả sức lực còn lại. Việc nhà cửa, việc làng xóm chẳng nề hà nếu thấy mình làm được, giúp được. Ông muốn trả nghĩa cho hàng xóm. Ông muốn bù đắp cho người vợ thân yêu hơn nửa đời phải sống xa chồng. Hơn ai hết, ông là người thấu hiểu sự lẻ loi của vợ trong những năm tháng ông đi biền biệt. Không chỉ là đơn chiếc, vợ ông còn quăng quật với đời để nuôi hai đứa con, một trai một gái nên người. Công ấy, sự vò võ canh thâu ấy, ông thấm thía vô cùng, ông thương vợ đến héo hắt ruột gan. Bởi thế, trong tình cảm của anh em hàng xóm, ông là người chu toàn.

Giờ thì gia đình ông, không túng thiếu như những tháng năm mà lương “ba sao” của ông “không bằng sào ruộng khoán” của vợ nữa. Vợ ông, cô Hường vốn là kế toán hợp tác xã, nhờ mấy người bạn của ông, đã được nhận vào làm ở công ty xuất nhập khẩu Thành Phú, một công ty làm  ăn  vào loại đầu bảng của tỉnh. Từ chỗ là chân kế toán, có tư chất bẩm sinh, giỏi giao tiếp, sau khi có tấm bằng đại học tại chức, Hường đã được bổ nhiệm làm phó giám đốc công ty.

Giờ thì trong ngôi nhà ba lầu của ông không thiếu thứ gì. Ai bước vào, cũng chắt lưỡi bởi những tiện nghi sang trọng và sự bài trí trang nhã. Lẽ ra, về hưu rồi, sức khỏe yếu, ông chỉ ngồi an hưởng sau một đời binh nghiệp nhọc nhằn. Vậy mà, từ ngày về hưu, tay chân ông chẳng lúc nào ngơi nghỉ. Nhà ông ở gần ngoại ô thành phố. Vợ ông sáng đi làm ở công ty cách nhà mười lăm cây số, tối mịt mới về, có ngày tiếp khách, giao dịch phải tận khuya. Tự lúc nào chẳng hay, ông đã tròn vai một nội trợ, điều mà người ta không thể hình dung ở một vị đại tá. Đi chợ, nấu nướng, lau chùi nhà cửa, cắt tỉa cây cảnh, trồng rau, rồi nuôi cả một đàn gà lôi làm cảnh. Ông nói làm để vận động cơ bắp, gìn giữ sức khỏe. Và có lẽ, thầm kín hơn, ông muốn làm vui lòng vợ trong những năm tháng được sống bên chồng.

Qua chuyện trò với ông, ai cũng nhận ra điều dó. Nhiều người nhận ra nhưng bụng dạ họ lại ái ngại cho ông. Trái cảnh quá. So le quá. Bao nhiêu là ẩn số. Tất cả mọi chuyện đều có thể xẩy ra. Chẳng lẽ ông không linh cảm được? Ở đời này cái gì cũng vậy, muốn hiểm họa đừng nẩy mầm thì giữ cho được chừng mực, vừa phải. Cô Hường đừng nhiều tiền nhiều của quá, chẳng hạn. Còn nữa, cách làm việc cung cúc, cách sống của ông cũng vậy, chẳng chừng mực chút nào. Không giữ được sự chừng mực nên đã có những lời ong tiếng ve. Dễ hiểu thôi, đó là thói đời. Tất nhiên, những lời ong tiếng ve, không thể không lọt vào tai ông. Vậy mà, chẳng hiểu sao, lạ lắm, ông Nhân chỉ cười, không một biến thái trên sắc mặt. Ông nhẹ nhàng, khéo léo gạt bỏ tất cả. Ông tỏ ra là người am hiểu thời cuộc. Ông giải thích với mọi người rằng, làm ăn thời buổi kinh tế thị trường phải vậy. Phải quan hệ, giao dịch. Quan hệ, giao dịch không chỉ trên bàn giấy ở văn phòng, trụ sở mà còn ở nhà hàng, quán cafe, có khi ở phòng Karaoke nữa. Ai không chấp nhận, không chịu được thì đừng làm kinh tế. Đúng thế. Đó là điều hiển nhiên. Ông Nhân tỏ ra tinh tường với đời. Có người nói: “Ông thoáng quá. Nhưng thoáng kiểu đó khác chi vẽ đường cho hươu chạy!”

Không chỉ là những lời nói, sự phân bua giải thích. Hình như, ông còn có những biểu lộ thái quá để thiết lập tự tin cho vợ nữa thì phải. Những lần cô Hường phải tiếp khách về khuya, ông Nhân chẳng tỏ ra khó chịu chút nào, trái lại, ông còn xởi lởi, chạy ra tận cổng đón; hôm nào vợ đi xe máy thì dắt xe vào gara, hôm nào đi xe con của công ty thì niềm nở mời lái xe vào nhà uống nước; trời lạnh thì xả nước nóng cho vợ tắm rửa. Vợ có một chút mùi men, một chút chếng choáng, ông vắt cam tươi cho vợ dã mùi men. Cử chỉ, thái độ đó của ông Nhân được một người hàng xóm đêm đêm chơi cờ với ông bắt gặp và kể cho nhiều người biết. Nghe kể, người nọ rỉ tai người kia: “Sao ông ấy tin vợ thế kia chứ !”.

Họ không tin vì đời ít có cảnh như thế. Họ không tin còn có một lí khác. Cô Hường còn xuân sắc quá, hương trời quá. Cô đang ở cái tuổi tràn trề, mặn nồng. Cô kém ông Nhân đúng một giáp, năm nay mới bốn hai. Làm cái việc chẳng phải đội nắng đội mưa nên da dẻ của cô cứ mịn màng. Nhấp một chút rượu chút bia là hai má phớt hồng, làm khối đàn ông cứ thầm ước được áp môi lên. Cô Hường không chỉ hớp hồn đàn ông bởi làn da nõn nà rười rượi mà còn làm họ đảo điên bằng những đường nét rất gợi trên cơ thể. Đi nhà hàng nhiều, tiệc tùng tiếp đối tác, quan chức liên miên nhưng biết giữ gìn nên thân hình cao ráo của cô chẳng kém gì người mẫu. Hai bầu vú vẫn căng tròn sau lớp áo con mỏng, vẫn eo thắt lưng ong, cặp đùi tròn lẳn thon dài được bó sát trong hai ống quần Jeans rất bắt mắt. Cô đã làm mẩn mê con mắt si tình của bao đối tác, quan chức. Từ ngày là phó giám đốc, ai cũng coi cô là linh hồn của công ty. Nhờ cô mà công ty cứ ngày ăn nên làm ra.

Còn ông Nhân, cuộc đời chinh chiến, phong trần đã làm khuất lấp cái dáng vóc khỏe khoắn, trai tráng thuở nào. Nước da ông sạm đen. Những vết thương quanh năm nhức nhối đã làm ông ọp ẹp, già đi trước tuổi.

*

Đó là sự ái ngại của thiên hạ. Còn sâu thẳm trong tâm can, vợ ông đã chịu bao thiệt thòi. Một cô Hường đã dám yêu, dám lấy anh bộ đội hơn mình đến mười hai tuổi trong những năm chiến tranh. Những năm mà sự ra đi của người lính không hẹn ngày trở lại. Cộng một đời làm vợ, Hường chẳng được mấy ngày ở bên chồng. Kể cả cái khoảng thời gian để cô sinh cho anh hai đứa con cũng thật đáng tội.

Năm cưới Hường, Nhân vừa được phong quân hàm thượng úy và được cấp trên cho đi phép nửa tháng. Cưới vợ được năm ngày thì có điện báo về, lệnh cho anh quay trở lại đơn vị khẩn cấp vì tình hình biên giới căng thẳng, có nguy cơ nổ ra chiến tranh. Thế là anh phải động viên Hường rồi khoác ba lô ra đi. Hơn chín tháng sau, Hường sinh cho anh đứa con trai đúng lúc anh đang cùng đồng đội chiến đấu ở biên giới phía Bắc. Hai tháng sau khi Hường sinh, anh mới nhận được tin vui. Tin thì vui nhưng lòng quặn thắt vì thương vợ một mình bụng mang dạ chửa, giờ lại một mình nuôi con thơ.

Khi con trai mới tám tháng tuổi, anh chưa được về thăm một lần thì chiến tranh biên giới Tây Nam bùng phát. Nhân và đơn vị lại lên tàu hành quân cấp tốc từ biên giới phía Bắc vào để tiếp tục chiến đấu.

Nhà Nhân ở cách ga gần một cây số nhưng lệnh hành quân cấp tốc nên anh không thể ghé về thăm vợ và nhìn mặt con. Ngày ấy không có điện thoại như bây giờ để có thể hẹn Hường ra ga gặp được. Tàu vào ga lúc trời đã tối hẳn. Xác định tư tưởng vậy rồi mà anh nghe bụng dạ nôn nao, cồn cào. Khi tàu chờ thay đầu máy, chiến sĩ được phép xuống sân ga hít thở không khí bầu trời đêm, thư giãn trong chốc lát thì người anh như có lửa đốt, đầu óc thất thần, mụ mị. Lí trí anh hình như không kiểm soát được nhịp tim mình nữa…

Đang đứng ngồi không yên thì bất ngờ có một người lính trẻ ghé vào tai: “Thủ trưởng chạy về thăm con trai đi! Tàu thay đầu máy ít nhất phải gần nửa tiếng. Nếu thủ trưởng chưa ra kịp, em sẽ có cách giữ tàu lại chờ…”. “Cách gì?”. “Mặc em! Không còn thời gian nữa, thủ trưởng chạy đi cho kịp!…”. Nói rồi, người lính trẻ dùng hai tay đẩy vào lưng Nhân băng qua đường sắt bên cạnh. Như một quán tính, chẳng ý thức kịp mình đã vi phạm kỉ luật quân sự, Nhân lao vào bóng đêm, tắt ngang qua cánh đồng về làng.

Về đến nhà rồi, ôm lấy con hôn hít rồi, dặn mẹ dăm ba câu rồi, Nhân mới định thần lại và phát hoảng về sự nguy hiểm không lường hết được của một cán bộ chỉ huy bỏ hàng ngũ trên đường hành quân ra mặt trận. Chẳng còn thời gian, Nhân chào mẹ rồi nhìn Hường ái ngại, nuối tiếc… Hường đứng chôn chân chẳng biết làm gì, nước mắt lưng tròng. Sợ chồng trễ tàu, Hường nói “Anh lấy xe đạp lai em ra ga cho kịp”.

Hường ngồi ép sát vào lưng chồng. Nhân gồng mình đạp xe băng băng trên con đường đất trắng nhờ dưới ánh sao trời. Khi hai người cách ga độ một trăm mét thì nghe tiếng loa thông báo: “Đoàn tàu quân sự còn mười phút nữa sẽ chuyển bánh…”. Như một phản xạ tự nhỉên, Nhân bóp phanh đột ngột rồi quẳng xe bên vệ đường, cầm tay kéo ào Hường vào bờ cây thưa thớt cũng bên vệ đường. Không cần nói gì, Hường đã hiểu chồng và nhanh chân bước theo, bất chấp sự trớ trêu của hoàn cảnh. Thời gian như nháy mắt không thể chần chừ, không kịp suy nghĩ, cũng chẳng cần ý tứ lúc này. Phải biết chớp lấy ngàn vàng…

Như một sự dồn nén, trong cái nghiệt ngã của chiến tranh, dường như tình yêu, bản năng khao khát càng bùng cháy ngùn ngụt, dữ dội. Nhanh hơn cả chồng, Hường kéo tuột quần áo quẳng vội xuống bãi cỏ, lột trần thân thể của mình. Sau mấy tháng sinh nở, cơ thể của cô thôn nữ một con non chanh, nuột nà phát sáng trong bóng đêm. Thân thể Hường rừng rực. Nhân như nghe rõ dòng chảy trong huyết quản cơ thể mình cũng rần rật chực vỡ tung ra. Anh hối hả, cuống cuồng như sợ đánh mất đi giây phút thần tiên. Tất cả như ngưng lại. Trái đất như ngừng quay. Mọi vật xung quanh và cả đoàn tàu quân sự đằng kia như tan biến trong vô thức. Hường không còn biết mình đang ở đâu, cũng chẳng biết đó là khoảnh khắc rất éo le, kì diệu giữa trần gian này. Nàng quằn quại, siết chặt lấy chồng, đê mê như trong cõi mộng. Chỉ đến khi tiếng loa phóng thanh của cô nhân viên nhà ga vang lên báo hiệu đoàn tàu sắp chuyển bánh, Hường mới sực tỉnh và chịu buông tay khỏi tấm lưng chồng. Mặc vội quần áo, Hường còn vít cổ Nhân xuống hôn lấy hôn để. Đến khi tiếng còi hú dài, tiếng đầu máy hơi nước phì phò, Nhân mới dứt khỏi vòng tay Hường lao về phía đoàn tàu…

Người lính trẻ mừng quýnh khi nhận ra thủ trưởng đã trở lại kịp đúng lúc tàu bắt đầu lăn bánh. Tàu chạy được một quãng, Nhân mới đến cạnh người lính trẻ ghé tai tò mò hỏi nhỏ. Anh giật mình khi biết, thực ra người lính trẻ chẳng có cách gì để giữ đoàn tàu dừng lại chờ thủ trưởng cả. Hiểu tâm lí thủ trưởng nên anh đã nói liều vậy thôi. Thật hú vía!

Còn người lính trẻ thì càng không thể biết, trước lúc tàu chuyển bánh chưa đầy mười phút, có một chuyện thần kì đã xẩy ra chỉ cách đoàn tàu quân sự khoảng một trăm mét. Thần kì hơn, trong cái khoảnh khắc huyền diệu có một không hai ấy, chín tháng mười ngày sau, thủ trưởng đã có bé gái thứ hai.

Thời gian ngắn ngủi của những ngày cưới, khoảnh khắc bất ngờ đêm chia tay ở ga tàu đã trở thành kí ức và đi theo suốt cuộc đời Nhân. Mỗi lần sống lại với nó, Nhân thương vợ đến nao lòng…

*

Cuộc chiến ở biên giới Tây Nam không lớn về quy mô nhưng rất ác liệt và tàn khốc. Nhân và đồng đội đã bám trụ và chiến đấu từ đầu đến cuối cuộc chiến. Đẩy lùi bọn Khơ Me Đỏ ra khỏi biên giới rồi còn phải vượt qua biên giới giúp nước bạn xóa sổ bọn diệt chủng Pôn Pốt. Trong những năm chiến đấu vì nghĩa lớn ấy, Nhân đã bị thương không biết bao nhiêu lần. Mảnh đạn đã găm vào khắp cơ thể anh. Đến khi một mảnh xuyên vào phía dưới ổ bụng, anh mới phải nằm viện lâu dài để phẫu thuật. Sau khi phẫu thuât, Nhân mới biết mảnh đạn ấy đã xuyên rất hiểm vào cạnh bàng quang.

Cuộc chiến kết thúc, nước bạn được giải phóng, nhưng Nhân chưa thể về thăm nhà được. Vết thương quá hiểm, Nhân phải tiếp tục điều trị lâu dài ở một số quân y viện phía nam. Còn Hường, như bao người vợ lính khác, chiều nào cũng dõi mắt về phương nam mong chờ. Rồi một ngày nhận được thư Nhân, Hường mới biết, chồng mình đang phải tiếp tục làm nhiệm vụ quốc tế giúp nước bạn bình ổn sau chiến tranh. Nhân nói dối thế để Hường khỏi lo lắng.

Ngày Nhân đi phép, sức khỏe anh đã bình phục được một phần. Khỏi phải nói cảnh đoàn viên sẽ tưng bừng, hoan hỉ đến thế nào. Hường sẽ tận hưởng hạnh phúc tột đỉnh ra sao. Một hạnh phúc có được  sau bao năm xa cách, đợi chờ. Một hạnh phúc như một hồng phúc.

Giờ thì thời gian không còn là cái nháy mắt như trong đêm tiễn chồng ra trận năm nào; không còn là tình thế éo le như một trận công đồn nữa; sẽ không hối hả, cuống cuồng; rồi không chỉ là giây phút thần tiên mà cả giờ, cả ngày, cả tháng thần tiên! Tất cả đều được hoán đổi vị trí cho nhau, tất cả đều ý thức được rành mạch. Hường sẽ tận hưởng được đến từng minlimet của hạnh phúc chứ không còn mông lung, chơi vơi như dưới bờ cây bên vệ đường đêm ấy. Chao ôi, chả trách gì người ta nguyền rủa chiến tranh là phải!

Và Nhân, tất nhiên rồi, những ngày sắp tới, sự tận hưởng hạnh phúc, cũng như vợ anh thôi. Trong những năm tháng đối mặt với kẻ thù, với cái chết, chịu đựng gian khổ, chịu đựng đau đớn qua những lần bị thương, chịu đựng đói khát khi bị địch bao vây phải ăn lá rừng để sống, ngoài nghĩa lớn còn vì cái hạnh phúc rất riêng này. Nhân càng thấy mình hạnh phúc hơn, mãn nguyện hơn khi giờ đây, vợ anh ngày càng đẹp càng giòn ra. Dưới con mắt mọi người, chị Hường đẹp nhất làng Đông này. Sự căng đầy hằn rõ trên cơ thể Hường làm anh hiểu thêm, chừng ấy năm trời, vợ anh cũng phải nén lòng chịu đựng chẳng kém gì sự chịu đựng của anh ngoài  mặt trận. Có khi còn âm ỉ, thao thiết hơn. Mới biết, cái khao khát hạnh phúc riêng tư ẩn giấu trong mỗi con người chẳng nhỏ bé chút nào.

Quả là như thế. Chẳng còn lí do gì để sau những năm tháng chịu đựng, Nhân và Hường không có hạnh phúc viên mãn, bù đắp cho những khoảnh khắc ngắn ngủi, hẫng hụt trước đây. Giờ thì, những nụ hôn qua bờ môi sẽ ấm áp ngây ngất hơn; vòng tay sẽ riết róng, níu chặt hơn; sự ân ái sẽ thêm nồng nàn; hạnh phúc sẽ ngập tràn, run rẫy đến tận từng tế bào trên cơ thể…

Mọi người, ai cũng đinh ninh như thế. Làng xóm ai cũng mừng cho vợ chồng Nhân như thế.

*

Sau một tháng trời tận hưởng hạnh phúc, Nhân trở lại đơn vị trả phép. Lần này, anh được điều động ra đảo Trường Sa. Những năm đó, ra đảo và trở lại đất liền không đơn giản như bây giờ. Một phần do tình hình đảo luôn căng thẳng, một phần chỉ có những con tàu rùa.

Hường rất buồn. Dễ hiểu thôi. Nhưng có cảm giác, Hường buồn hơn những lần chia tay chồng trước đây. Và hình như cái buồn của cô có gì khác nữa thì phải. Mọi người nhận ra qua sắc thái, qua giọng nói mỗi khi chuyện trò với cô rồi đoán thế, chứ làm sao phân biệt rạch ròi được. Có người còn nhận ra, sau cái đêm đầu tiên chồng về đã thấy cô buồn rồi. Lạ thế. Có lẽ, ngay trong đêm đầu, Nhân đã để lộ với Hường hết phép sẽ ra đảo nhận nhiệm vụ mới thì phải?

Đúng như kế hoạch, sau một tháng nghỉ phép, Nhân đã ra đảo. Anh đã làm nhiệm vụ một mạch đến ba năm. Rồi từ đó, đều đặn ba năm anh mới về phép một lần. Người làng lấy làm lạ, bộ đội thời bình sao ba năm mới được đi phép? Hay anh làm nhiệm vụ quân sự đặc biệt?

Cũng quãng thời gian ấy, cuộc sống của Hường ở quê đã rẽ sang lối mới. Nhờ sự quen biết từ mấy người bạn của chồng, Hường đã được nhận vào làm ở công ty xuất nhập khẩu Thành Phú. Khi công việc Hường chuyển sang môi trường mới thì sự xì xào của thiên hạ có chút xoi mói. Nào là ông ấy muốn thả vợ ra để làm giàu. Nào là đẹp thế, phây phây thế, đi đêm về hôm thế, nay công tác gần, mai công tác xa, không có chuyện gì mới là lạ! Ông Nhân khó hiểu thật! Có vàng  mà chẳng biết giữ!…

*

Là bạn nối khố từ thuở chăn trâu cắt cỏ nhưng chuyện của ông Nhân, tôi cũng chỉ biết có vậy. Thân tình lắm tôi mới được ông kể cho nghe những chuyện kín đáo, riêng tư như thế. Cũng như bao người trong làng, tôi vẫn băn khoăn, ái ngại cho ông. Tôi vẫn cảm thấy có những điều, những chuyện khác lạ, khó hiểu. Nhưng ở đời, dẫu là thân tình thì không phải chuyện gì cũng hỏi cho ra ngọn ngành được, nhất là những chuyện tế nhị. Thôi thì biết đến vậy cũng đủ cho làng nước kính trọng cảm kích vị đại tá rồi. Những gì họ chưa bằng lòng với ông, chỉ là chuyện vặt vãnh, chỉ là hạt bụi thôi. Ở đời có ai tròn vằn vặn được.

Về hưu được ba năm thì sức khỏe ông Nhân suy sụp hẳn. Ngoài những vết thương tái phát, tai ác thay, ông còn mắc phải bệnh K dạ dày. Thằng Đức, con trai ông từ Đà Nẵng về, đưa ông ra khám ở 108 theo tiêu chuẩn cán bộ quân đội. Không hẹn mà gặp, bác sĩ khám cho ông chính là người lính trẻ năm nào đã nghĩ ra mẹo giúp ông về thăm vợ con chớp nhoáng khi đoàn tàu quân sự dừng ở ga để thay đầu máy. Nhưng lần này thì anh không nghĩ mẹo để giấu thủ trưởng bệnh tình nữa. Anh đã hiểu tính cách của ông. Biết mình bị bệnh trọng, ông Nhân chẳng biểu lộ bi quan gì. Ông đón nhận nó như cái mệnh trước sau cũng đến với mỗi người. Trên đường về, ông dặn Đức: “Con giấu mẹ bệnh của bố, để mẹ đỡ khổ ngày nào hay ngày ấy. Đời mẹ con khổ nhiều rồi !”. Đức nghe, ứa nước mắt thương bố.

Ngày cuối cùng trên giường bệnh, cũng là trên cõi trần, ông Nhân cho người nhà gọi tôi vào gặp riêng. Khuôn mặt ông đã hốc hác nhưng ông vẫn tỉnh táo rành rọt: “Tôi gửi anh quyển nhật kí này. Sau này, nếu nhà tôi có tai tiếng gì, nhờ anh thanh minh hộ. Cuộc đời nhà tôi thật bất hạnh!”. Tôi gật đầu và nhìn vào mắt ông: “Anh yên tâm mà đi, hãy tin tôi”. Ông cầm chặt lấy tay tôi, hàm ý rất biết ơn. Từ khóe mắt, một giọt nước mắt lăn dài theo gò má hốc hác rơi xuống gối. Tôi hiểu, đó là giọt nước mắt dành cho người vợ …

*

Sau khi ông Nhân mất, tôi đã đọc nhật kí của ông. Nói nhật kí nhưng không phải ngày nào ông cũng ghi. Ông chỉ ghi chép những tháng ngày đáng nhớ nhất của cuộc đời. Tôi bất ngờ và có chút sửng sốt khi nhận ra những điều hệ trọng của người bạn đồng niên mà tôi không hay biết. Khi đọc hết cuốn nhật kí thì tôi hiểu, không phải vô cớ mà có những chuyện ông cố tình giấu kín.

Ông Nhân mất được mười năm thì cô Hường nghỉ hưu. Vợ ông đã hạ cánh an toàn, chẳng có tai tiếng gì nên tôi cũng chẳng phải giúp cô ấy như lời ông dặn.

Nhưng rồi, qua nhiều đêm trăn trở, tôi lại nghĩ ngược một chút. Thì chính cô Hường không có tai tiếng gì mới cần bật mí những điều ông giấu kín hàng chục năm nay. Ở chốn Tây phương cực lạc, xin phép ông cho tôi trích đôi dòng nhật kí nhé. Âu cũng để làm cho người đời hiểu và cảm thông cho ông, cho cả cô Hường nữa. Hạnh phúc hoặc những nỗi đau, suy cho cùng có gì phải đem giấu kín.

Ngày14/ 5/ 1981: Thế là tôi phẫu thuật đã hơn một tháng. Mấy hôm nay, tôi thấy trong người là lạ. Hình như tôi chẳng có cảm xúc gì về chuyện ấy nữa… tôi mơ hồ nhận ra điều này mỗi khi nhớ về Hường. Tôi hỏi nhỏ bác sĩ, bác sĩ giật mình. Rồi các bác sĩ đã tổ chức hội chẩn. Có thể mảnh đạn (hoặc quá trình phẫu thuật) đã làm “chết” một số dây thần kinh liên quan đến khả năng ấy của tôi…

Nghe vậy, tôi rụng rời, chết lặng. Nếu vậy, rồi đây tôi sẽ sống ra sao, Hường sẽ sống ra sao? Tôi có cảm giác bóng đêm đang phủ kín trước mặt mình.

Ngày21/5/1981: Tưởng chiến tranh kết thúc là có thể về thăm mẹ già, vợ con. Giờ đây, khi một số đồng đội đã lần lượt đi phép thì tôi phải nằmchết dí lại để điều trị. Mà điều trị phải hàng năm trời. Mà cũng có chắc gì đâu. Biết làm sao được! Mang cái xác vô hồn này về, Hường lại còn đau khổ hơn thì có. Phải nói dối Hường đang  làm nhiệm vụ bên nước bạn cho Hường yên tâm.

Ngày 2/6/1983: Đã hai năm trời điều trị. Các bác sĩ đã hết lòng. Mảnh đạn cắt vào chỗ quá hiểm, đứt một số dây thần kinh, không thể khôi phục được nữa. Tôi sụp đổ tuyệt vọng…

Ngày15/6/1983: Chẳng thể giấu Hường mãi được. Tôi quyết định đi phép. Mấy đêm liền không tài nào chợp mắt được. Đã đến lúc phải đối diện với sự thật nghiệt ngã. Với người lính, tôi có thể chịu đựng được. Còn với Hường, làm sao em có thể chịu đựng nổi?

Ngày 27/6/1983: Đêm qua là đêm bất hạnh đầu tiên của vợ chồng tôi. Thật không tin nổi sự thật lại phủ phàng đến thế! Tôi biết Hường sốt ruột khi khách đến chơi quá khuya. Chờ người khách cuối cùng ra về, Hường kéo tôi vào buồng ngủ. Tôi chưa kịp nói gì thì Hường đã tự tay cởi quần áo ngoài cho tôi rồi chủ động trút bỏ quần áo trên thân thể mình. Thân thể Hường vẫn đẹp như năm nào, vẫn phát sáng lên trong đêm. Hai bầu vú em phập phồng, thổn thức. Cả người Hường nóng ran, khao khát… Buồn thay, sự ham muốn của tôi chỉ còn phát sinh trong ý nghĩ. Tôi lúng túng … Tay Hường sờ dọc theo cơ thể tôi rồi giật mình, hẫng hụt…Trời ơi, sao lại thế này… Tôi bẽ bàng, ôm chầm lấy thân thể tưởng như đóng băng của em. Mãi sau, tôi mới kể cho em nghe sự thật khủng khiếp đã làm tôi khổ tâm trong hai năm qua. Hường rấm rứt khóc, nước mắt ướt đẫm ngực tôi. Nỗi đau, sự mất mát không ai thấu tỏ. Tôi thương mình ít mà thương em đến vô cùng vô tận.

Khi Hường đã ý thức được sự thật, tôi lấy hết sức bình sinh để có thể an ủi em. Chẳng được gì đáng kể. Chỉ là ép cái cơ thể vô hồn lên cơ thể em đến nghẹt thở; rồi dùng bàn tay xoa dịu da thịt em; dùng bàn tay để  làm tất cả những gì có thể… Nhưng rồi tôi bất lực nhận ra, nếu chỉ có bàn tay thì chẳng có nghĩa gì cả…

Ngày 15/71983: Tôi đã giấu Hường việc tôi chủ động xin cấp trên ra công tác ở Trường Sa; giờ đây tôi đang chung sống với sóng gió Trường Sa; ba năm tôi mới xin đi phép một lần.thật là một điều bất đắc dĩ… Tôi đã nhờ bạn cũ xin cho em vào làm ở công ty xuất nhập khẩu Thành Phú. Tôi muốn em có môi trường làm việc mới, muốn em có điều kiện giao lưu,có thêm chút hương vị của đời trong những năm xa tôi…

Ngày 1/1/1998: Một năm mới nữa lại đến. Không biết mấy năm qua, em đã sống như thế nào?…Tôi không muốn em phải chịu đựng sự bất hạnh suốt đời như thế. Đời người chỉ có một.

Ngày 4/5/1998: Thế là tôi đã về nghỉ hưu được ba tháng. Ban ngày tôi cố gắng làm nhiều việc cho khuây khỏa. Còn đêm đến, sự bất hạnh lại choán ngợp khi tôi và em đối diện. Hai đứa con tôi đã trưởng thành nhưng chúng không hề hay biết. Đêm qua, sau một tháng trời thủ thỉ, có lúc như nài nỉ van xin; sau bao nhiêu là nước mắt, Hường đã đồng ý rồi đây sẽ sinh thêm một đứa con. Tôi sẽ nhận đó là con mình… Chỉ có cách vậy thôi…

*

Ông Nhân ơi, nỗi lòng ông ngày ở cõi trần thế là đã tỏ. Còn nỗi lòng người vợ thân yêu của ông thì có lẽ ông chưa hiểu đến tận cùng. Sau ba năm được sống gần ông và sau khi ông mất, cô Hường chẳng sinh cho ông thêm đứa con nào nữa. Có lẽ đêm ấy, để chiều lòng ông mà cô ấy nhận lời vậy thôi.

Previous articleDỊU DÀNG
Next articleNGƯỜI ĐÁNH MÁY CHỮ
RELATED ARTICLES

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

Mà đời vẫn say, mà hồn vẫn gió…

NGUYỄN VIỆT CHIỄN Ngày ấy mà Tạo đã thân với Hoàng Cầm, Văn Cao làm tôi choáng, tôi bái phục. Đi chơi với Tạo, tức...

ĐẦU XUÂN VỚI NHÀ THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM

NGUYỄN TRỌNG TẠO Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm và Nguyễn Trọng Tạo Tết Giáp Thân 2004, tôi về ăn Tết ở Huế. Sáng 30 có việc...

5 COMMENTS

  1. Truyện đã truyền thổi một chút cảm hứng nhân văn rất thiếu ở thời nhiễu nhương…Cám ơn tác giả!

  2. Mới kết hôn được 6 tháng, Trương Vũ Kỳ và Vương Toàn An đang tận hưởng những ngày tháng vợ chồng son ngọt ngào. Vài tuần trước, cô đào Siêu khuyển thần thông đã gây bất ngờ cho chồng khi tổ chức sinh nhật cho anh tại Shangri-la, Tây Tạng, một địa điểm lãng mạn nằm ở độ cao 3.800 m so với mực nước biển. Đôi uyên ương cũng không quên chia sẻ những bức ảnh đẹp tại chốn thiên đường này với khán giả.

  3. Câu chuyện thật cảm động! Cam ơn thầy đa cho em hieu thêm phan nao ve su khoc liet cua chien tranh.Truyện đầy tính nhân văn, nhân bản.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -

Most Popular

SINH NHẬT MÙA THU

NGUYỄN TRỌNG TẠO SINH NHẬT MÙA THU Tặng Em Ai giấu trong màu thu Bông cúc xanh tháng bảy Nhìn cánh hoa anh thấy Thu về cùng gió xanh Ai giấu...

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

BỐ VÀ CON

NGUYỄN TRỌNG TẠO Tặng con và bố Tú Con gọi nồng nàn tiếng bố Bố cưng gái rượu yêu kiều  Rồi con thành bà nội ngoại Bố mãi gọi...

KHI XÃ HỘI XUỐNG CẤP, NHÀ THƠ – NGƯỜI Ở ĐÂU?

NGUYỄN TRỌNG TẠO (Nguyễn Đức Tùng thực hiện) Nguyễn Đức Tùng: Rất vui được trò chuyện với anh Nguyễn Trọng Tạo, chàng thi sĩ lãng mạn...

Recent Comments

loctran on THỜI MẠT
Đào Nguyên Lan on THƠ NGUYỄN NGỌC VƯỢNG
tamnguyenxuan55gmail.com on 3 TẢN VĂN CỦA ĐẬU THỊ THƯƠNG
Vương on ĐẤT NƯỚC TÔI
Nguyễn Hoàng Sơn on NHÀ THƠ NGUYỄN DUY VỀ LÀNG
tu sinh on BA THẰNG BẠN
Nguyễn Thanh Cừ on TỔNG THỐNG
Trần Anh Dũng on THƠ ĐẶNG LƯU SAN
Nguyễn Ngọc Phong on “SUY NGẪM” CỦA LÊ THANH DŨNG
Hoàng Trí on NGỤM CHÁO LÚ
Trâu Hà Tĩnh on BA CÂU HỎI CHO HOÀNG HƯNG
sonnghithu@gmail.com on NGƯỜI VỀ TRƯỜNG SA
phamducquy on THƠ VÕ THANH AN
trần vũ long on THƠ VÕ THANH AN
Nguyễn Trường Sơn on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
TRẦN NHUỆ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Nguyễn Thanh Cừ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Lê Kinh Thắng - Tham tán Thương mại tại Nam Phi on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Lê Anh Phong - TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Nguyễn Thị Bích Lài - Đồng hương của hai người hiện ở TP. Pleiku - tỉnh Gialai – Pleiku. on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Phạm Đông on VĂN TẾ CÂY HÀ NỘI
Nguyễn Thanh Cừ on ĐỐI THOẠI VỚI LÝ QUANG DIỆU
Nguyễn Thanh Cừ on XIN ĐỪNG ĐỤNG VÀO CÂY…
Người lái đò on ĐANG SỐNG MÀ ĐÃ BẢO TÀNG…
Phan Thai Duc Hieu on THÂN PHỤ TÔI
THUYTANTHUYTRUONG on TUYẾT NGA
jamesnguyen on CON TUYẾT
jamesnguyen on KIẾP HÀI NHI
Khanh nguyen on NẾU NHƯ KHÔNG… NẾU
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Pham Tien Cat on NGUYỄN HOA VÀ THƠ
Anh Nguyên on CÁI ĐINH ỐC
Nguyễn Thanh Cừ (Hà Nội) on NGUYỄN TRỌNG TẠO HAY ÔNG “ĐỦ MÓN, 5 SAY”
phạm Dũng on SUY NGHĨ VỀ HÒA HỢP
Nguyễn Thị Long on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
nguyễn thị thanh minh on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on VĨNH BIỆT NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG SÁNG
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on KHÚC HÁT SÔNG QUÊ – BÀI CA CỦA MỌI NGƯỜI
Lâm Bích Thủy on THƠ VALENTINE 2014
Anh Nguyên on THƠ VALENTINE 2014
Pham Tuấn Thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguyễn Tiến Dũng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Phạm Trường Thi on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phạm tuấn thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguoi mien nui on QUYẾT LIỆT LÀ… TAN VỠ
Nguyễn Mộng Nhưng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phó thường dân on NGUY CƠ TỪ TRUNG QUỐC
thời đại khoa học on GẶP TƯỚNG GIÁP VÀ NGẪM VỀ NGƯỜI
Nỗi buồn hoa phượng on TRUYỆN CỰC NGẮN: BIẾU SÁCH
Gloomy 1721979 on KINH SÁCH CỦA NƯỚC VỆ
Dân gian: "Nhà văn nói láo, nhà báo nói phét" on NƯỚC ICELAND KÍNH TRỌNG NHẤT NGHỀ VIẾT VĂN
Hoạ sĩ Trần Thị Bích Huệ on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Huỳnh Văn Úc on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Van Duc on HOA MẠC TRẮNG
nguyễncamgiang@yahoo.com.vn on NHỮNG CÁI CHẾT TỨC TƯỞI CỦA NHÀ VĂN
Danh Hiếu on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Nhan Van on HỒI KÝ CA SĨ
Bà Ngoại on HỒI KÝ CA SĨ
Văn Nhân. on HỒI KÝ CA SĨ
Dungquy on HỒI KÝ CA SĨ
Người nhà quê on SUY NGẪM CỦA LÊ THANH DŨNG
nguyenvan on TÔI YÊU VIỆT NAM
Thanh Minh on TÔI YÊU VIỆT NAM
Hoàng Lãng Thụy on INRASARA BÌNH BÀI THƠ “CHIA”
Đỗ Cảnh Thìn on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
ANH NGUYỄN on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Nguyễn thanh Hà on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Thanh nien nghiem tuc on ĐẶNG HUY VĂN DẶN PHƯƠNG UYÊN
Hà quang Minh on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Trọng Hoàng on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Văn Nhân. on HỌC LÀM QUAN
vũ thảo on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on HỌC LÀM QUAN
Nguoi lam thue on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
nguyenvan on HỌC LÀM QUAN
GÀ QUÊ on HỌC LÀM QUAN
montaukmosquito on HỌC LÀM QUAN
Phạm Lưu Vũ on KHÔNG ĐỀ 72
Hạnh Nhung on KHÔNG ĐỀ 72
dinhqn on KHÔNG ĐỀ 72
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Khánh Minh on KHÔNG ĐỀ 72
Nhị Mai on KHÔNG ĐỀ 72
Bá Tiến on TUYẾT NGA
Thanh Minh on TUYẾT NGA
HOÀNG TRƯỜNG SA on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Gloomy 1721979 on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Thập tứ đại ngu. on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
mai thanh sơn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Hồ Muôn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
ANH NGUYỄN on LƯU MANH KẺ CHỢ
ANH NGUYỄN on CHÙM THƠ BIỂN
Thanh Minh on LƯU MANH KẺ CHỢ
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Vũ Xuân Tửu on LƯU MANH KẺ CHỢ
luong thien on LƯU MANH KẺ CHỢ
nguyenvan on LƯU MANH KẺ CHỢ
Phan Thế Thủy on LƯU MANH KẺ CHỢ
T. A. T on THÂN PHỤ TÔI
Lê văn Minh on THÂN PHỤ TÔI
Tô Lê Sơn on THÂN PHỤ TÔI
ANH NGUYỄN on SẮC DỤC
Đỗ Duy Văn on THÂN PHỤ TÔI
Lưu Đinh Anh on SẮC DỤC
hao hao on THÂN PHỤ TÔI
nguyenvan on 23 TẦNG NGƯỜI
Văn Trường Lưu on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Hoàng Văn Hoan on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Trần Thị Bích Huệ on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
nguyen van lung on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Ngô Văn Hải on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Phan Huy Vũ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Trần Thị Bích Huệ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Nguyễn Hữu Đức on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
Nguyễn Thị Chinh on VĂN CAO: TRƯƠNG CHI LÀ TÔI ĐẤY
Nguyen Van Nam on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
Thanh Minh on GIA PHONG XỨ NGHỆ
NGUYỄN VĂN ĐOÀN on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
LÒ LÃO NÔNG/NGUYỄN ĐỨC TOAN on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
(Vẫn là) Cháu ngoan Bác Hồ. on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
nguyễn văn Đức on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người nhà quê on GIA PHONG XỨ NGHỆ
Nguyễn Đắc Vinh on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Ngọc Rô on CÒN ĐÂU SÔNG NHUỆ NGÀY XƯA
Giời Ơi on GIA PHONG XỨ NGHỆ
T Nguyen on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Ha Dinh Van on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Muathuhanoi on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Người VN Yêu Nước on CỦA CE’SAR XIN TRẢ LẠI CHO CE’SAR
nguyenvan on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Nguyên on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Ông Đồ xứ Nghệ on HOÀNG SA LÀ ĐÂU HỞ NGOẠI?
Bác Hồ sống mãi trong sự cay đắng cùa chúng ta! on SỰ NHẦM LẪN LỜI CA “GỬI NGƯỜI EM GÁI MIỀN NAM”
mai ngoc on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Trịnh Công Tiến on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Khách qua đường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đỗ Duy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hà Văn Thịnh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Tăng Bá Hùng on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
trần cường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
phạm văn Lâm on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Hoàng on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hoàng Thiên Thanh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Gia đình Liệt sĩ chống Pháp, chống Mỹ on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
thiên đường XHCN on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Gia Linh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Trường Sơn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Văn An on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Nguyễn Văn An on MINH VƯƠNG
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
ANH NGUYỄN on THƠ XƯA CHƯA CŨ
Biết Tuốt on CHÂN DUNG PHÁC THẢO
Thanh Minh on TUYỆT THỰC
Công Trình on TRƯỜNG SA LÀNG TA
ĐoànhĐoành@ on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
Anh Hoa on TUYỆT THỰC
tù nhân lương tâm on TUYỆT THỰC
mai ngoc on TRƯỜNG SA LÀNG TA
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
kieuhung on TUYỆT THỰC
buncuoiwa on TUYỆT THỰC
Bà Ngoại on PHẠM DUY VÀ TỐ HỮU
Nguyễn Trường Sơn on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Khúc hát sông quê on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Cùng là người HN on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Văn Đức on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
Hoàng Xuân Thảo on THƠ CHO THIẾU NHI: CHÂN VÀ CÁNH
Hoàng Xuân Thảo on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
ĐoànhĐoành@ on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Trần Thường Kiệt on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Trần Thường Kiệt on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Cai nuoc minh no the on LỄ TANG ÔNG HỒ ĐỨC VIỆT
Công Luận on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Phạm Lưu Vũ on LIÊN HOAN THƠ TẠI PHÁP
Hoàng Khải on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
truclamthientruongy on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Móng Rồng on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trần Dân Đen on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trương Duy Nhì on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Hiên ngang, sáng ngời.... on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Triời mô xanh bằng trời Can Lộc on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Phạm Hồng Thái on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Người VN Yêu Nước on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Hồn Ma Võ Văn Kiệt on NGUYỄN KHOA ĐIỀM: SỰ TẦM THƯỜNG
HTvinh on SẮC DỤC
hát xẩm xứ nghệ on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on THƠ LÊ TUẤN LỘC
Nhân Văn Giai Phẩm on NGƯỜI MÊ VĂN HỌC BA LAN
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
D.Nhật Lệ on TÀI – TAI
3 Dê (tên tục Nguyễn Mười-Tạ Dũng, huý tự Nguyễn Chí Dũng) on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
park gil oung on ÁO LỤA VÀ HOA SEN
Người sông Tiền on VĨNH BIỆT NGƯỜI VỀ SÔNG TƯƠNG
Dương Diệu Minh on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
Phương Xa Ty on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
hát xẩm xứ nghệ on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Văn Đức on HUYỀN BÍ VÂN KIỀU
Lương Dũng Hà on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC THƠ LÊ THÁI SƠN
xuân thơm on TẠI SAO VIỆT NAM?
Tran Kim Phuong on CHUYỆN TẮM TIÊN
Văn Đức on DỊU DÀNG
Bà thành on CHUYỆN TẮM TIÊN
Khách qua đường on GẶP GỠ THÁNG TƯ
mai ngoc on C’EST LA VIE! (*)
Nguyễn Hữu Cường on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
PHƯƠNG NAM on 4 PHÚT TUYỆT VỜI
Bất công on C’EST LA VIE! (*)
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
nguyễn xuân on THƠ BÙI MAI HẠNH
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
Vinh on BÁC SĨ THÚ Y
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hát xẩm xứ nghệ on THƠ MỚI CỦA LÊ HUY MẬU
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
Vũ Đức Thắng on NGUYỄN PHAN HÁCH VÀ TÔI
nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hội những người ko được giải là đây on CHÙM THƠ PHẠM ĐƯƠNG
V. Đ. on NGẪU HỨNG
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
ChâuDiên on CỬA LÒ QUÊ CHA
Văn Đức on CỬA LÒ QUÊ CHA
phạm hữu đăng đạt on THẾ HỆ TÔI, MỘT THẾ HỆ CÚI ĐẦU
VIỆT HƯNG on CỬA LÒ QUÊ CHA
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
Biển Đen on THỦ PHẠM
Tiến Hùng on THỦ PHẠM
Người VN Yêu Nước on THỦ PHẠM
Dinh Trung on THỦ PHẠM
Phạm Lưu Vũ on THỦ PHẠM
c on NHÂN DÂN
Văn Đức on CHIẾN TRANH
lanh thu on CHIẾN TRANH
vu vơ on CHIẾN TRANH
Lâm Tú on CHIẾN TRANH
Điện Hải 1858 on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Nguyễn Anh Hùng on CHIẾN TRANH
Thái Doãn Táo on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Bùi Thạch Hãn Cựu chiên binh on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Nguyễn Đức Giang on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
mayhong hồ tây hà nội on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
FAn của Boi on BẠC MỆNH MỘT TÀI HOA!
Nguyễn Xuân Lai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
nhà thơ Nguyễn Thị Mai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Ước mơ dân chủ công bằng on NGHĨ VỀ TRẢ LỜI VTV CỦA ÔNG NGUYỄN ĐÌNH LỘC
Cu Lon on THƠ MẠC MẠC
VIỆT HƯNG on NGÔN NGỮ MỚI
Bich Khe on NGÔN NGỮ MỚI
Nguyễn Xuân Lai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC LÀ NIỀM LẠC THÚ
Bà thành on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Vĩ Trung Ngân on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Đảng ta vĩ đại thật on MỘT BÀI HỌC TỪ PHẠM QUỲNH
Dân Đen on