Thứ Ba, Tháng Sáu 15, 2021
Home Bài của bạn LẠM BÀN VỀ “CHÚ” VÀ “THẦN CHÚ”

LẠM BÀN VỀ “CHÚ” VÀ “THẦN CHÚ”

PHẠM LƯU VŨ

logovietNói đến “chú” (hay “thần chú”), thường dễ bị quy chụp ngay là mê tín dị đoan. Ấy là khi chưa hiểu thực chất của “chú” là gì? kể cả người đọc “chú” lẫn người nghe “chú”, rằng “chú” có từ khi nào?,  ai là người lập ra “chú”?, hiệu nghiệm của nó ra sao?, khi nào có hiệu nghiệm?, tại sao lại có hiệu nghiệm?, v,v… Chưa kể các loại “thầy, bà…” xưa nay thường sử dụng “chú” vào những mục đích không mấy lương thiện của họ, điều này càng làm cho “chú” dễ bị hiểu lầm. 

Nay bàn về “chú”, trước hết xin hãy gạt những thứ đó sang bên cạnh cái đã.

Trong 6 nguyên tắc biên dịnh Kinh Phật từ Phạn ngữ sang Hán ngữ do pháp sư Huyền Trang đưa ra, có 1 nguyên tắc là chỉ phiên âm mà không dịch khi gặp các trường hợp sau:

1- Những từ có quá nhiều nghĩa lý thâm sâu: ví dụ Bát Nhã, Ba La Mật, Tam Muội…

2- Những câu “chú”, bài “chú”.

Nghĩa là “chú” chỉ được phép phiên âm, mà không dịch. Kể cả những đoạn “chú” nằm trong kinh văn, thì khi đọc tụng, phần kinh văn có thể tụng lời dịch, còn “chú” thì (bắt buộc) phải tụng theo phiên âm.

Đời sau nhiều người vẫn tìm cách dịch nghĩa các câu “chú” hoặc bài “chú” đó. Song cũng chỉ là dịch để biết, biết (1 phần rất nhỏ) nghĩa lý thế thôi, chứ nếu đọc hoặc tụng theo lời dịch thì dứt khoát không có tác dụng. “Chú” (như sau đây sẽ thấy), là một dạng “ngôn ngữ” đã ra ngoài nghĩa lý thông thường vậy.

Xin “mở ngoặc” một tí: Trong cuộc đời đôi khi cũng gặp những trường hợp tương tự như “chú”. Ví dụ những “mật khẩu” dùng trong quân đội chẳng hạn. Đó là những khẩu lệnh của 1 phía nhằm “quy ước” sẽ thực hiện 1 hành động nào đó mà phía bên kia dẫu có nghe thấy cũng không tài nào hiểu được. Đừng tìm cách “giải nghĩa (đen)” của cái “mật khẩu” ấy làm gì, việc đó không những vô nghĩa, thậm chí có thể dẫn đến… mất mạng như chơi (trường hợp Dương Tu giải thích mật khẩu “kê cân” của Tào Tháo trong truyện Tam Quốc là 1 ví dụ). Trường hợp này và những trường hợp tương tự cũng có thể gọi là 1 dạng “chú”, đó là “chú” của phàm trần (gọi là “phàm chú”).

Vậy “chú” là gì?

“Chú” (từ đây có nghĩa là “thần chú” để phân biệt với “phàm chú”), có thể (tạm) hiểu là những MẬT NGỮ do một bậc giác ngộ hoặc một bậc đắc đạo nào đó đưa ra nhằm “chỉ thị” hoặc “ra lệnh” cho những đồ chúng, quyến thuộc… của vị đó ở những cõi giới khác cõi phàm phải thực hiện một công việc gì đó, một “quyền năng” nào đó đã có “nguyện” (hay giao ước) từ trước.

Vậy những bậc nào mới có thể lập ra “chú”?

Chỉ có những bậc đắc đạo, cụ thể là đạt tới thánh vị thứ 3 (A Na Hàm) hoặc tương đương, trở lên mới có khả năng lập ra “chú”. Nói nôm na, đó là những bậc đã đạt tới quả vị: “có thể sai khiến được quỷ thần…”. Tóm lại phải là những bậc đã “chứng” được 1 phần hay chứng được toàn bộ Pháp thân.

Vậy ma vương có thể lập “chú” không?

Có, thậm chí rất nhiều. Bởi ma vương cũng là những bậc đắc đạo (song vì một lý do hay một nhân duyên nào đó, đã rẽ sang đường khác, không tu hành theo chánh đạo nữa). Ma vương cũng có những bậc đã đạt tới trình độ giải thoát (tiến hóa về trí tuệ) rất cao, thậm chí tương đương với quả vị A La Hán, Bích chi Phật (và cũng chỉ tới đó là tột cùng, không thể tiến thêm được nữa trừ khi vị đó quay đầu phát tâm Bồ Đề, hành đạo Bồ Tát).

Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, hạng “ma” này sở dĩ thành tựu là do… tự mình thành ma, không phải “ma” bên ngoài nhập vào. Một hành giả khi bắt đầu chứng được cảnh giới giác ngộ, mà lạc mất chánh đạo thì thường bắt đầu tìm kiếm đồ chúng và quyến thuộc…, và trở thành ma dân, ma vương… Đó là những người tu hành đã đoạn diệt xong 3 uẩn (3 ấm) đầu tiên (gồm sắc ấm, thọ ấm và tưởng ấm), tiếp tục tu hành để đoạn trừ hai uẩn (hành ấm và thức ấm) còn lại. Những hành giả chưa đoạn diệt xong 3 uẩn đầu mà bỏ mất chánh đạo, thì cũng chỉ có thể trở thành đồ chúng hoặc quyến thuộc của ma mà thôi. Vì vậy “ma” thấp nhất là hạng vẫn còn nguyên “hành ấm” và “thức ấm” chưa được đoạn trừ. Từ đó cứ lên cao dần… Tột đỉnh là hạng đã trừ hết ngũ uẩn.

Số lượng (và cả “chất lượng”) đồ chúng, quyến thuộc của ma vương nhiều hay ít, cao hay thấp hoàn toàn tùy thuộc vào quả vị giải thoát (hay đạo hạnh) mà vị ma vương đó đạt được. Vì vậy, “chú” của ma vương cũng tùy theo quả vị cao hay thấp của chính ma vương đó mà có tác dụng mạnh hay yếu, rộng hay hẹp…

Vậy đồ chúng, quyến thuộc của ma vương là những ai?

Là những chúng sinh ở khắp các cõi giới, kể cả cõi phàm trần, bao gồm cả những người đang tu hành hoặc chưa tu hành, song có nhân duyên với vị ma vương đó, do vị đó tìm kiếm và “tuyển mộ” được thông qua năng lực túc mạng thông (có thể soi khắp 80 vạn đại kiếp chúng sinh) của mình.

Vì vậy, “chú” của vị ma vương nào thì chỉ có tác động (sai khiến, nhiếp tâm, hộ trì hoặc chiếm lấy thân, khẩu…) đối với đồ chúng, quyến thuộc của chính vị đó mà thôi. Ngoài ra đều không tác động được.

“Chú” của ma vương lập ra nhằm phục vụ cho những mục đích, quyền lợi riêng của chính ma vương đó, hoặc quyền lợi của các đồ chúng, quyến thuộc thân cận (từ trên thì là các loại “quan”, “đế”, các loại “gia” (nhà)… xuống dưới thì là các loại “thầy”, “bà”… hành nghề truyền bá, mê hoặc từ xưa tới nay). Phần lớn những mục đích này là ngược lại với quyền lợi của tuyệt đại đa số chúng sinh, thậm chí nó nhằm cản trở hay phá hoại mọi quá trình tiến hóa về mặt trí tuệ, nó làm lệch hướng hoặc triệt tiêu mọi kết quả giải thoát (hay ngộ đạo) của bất kì một chúng sinh nào.

Đây chính là chỗ khác nhau căn bản, thậm chí trái ngược (về mục đích) giữa “chú” của ma vương với “chú” trong kinh pháp của chư vị Phật, Bồ Tát.

Chư vị Phật, Bồ Tát (từ Bồ Tát thập địa trở lên) là những bậc đã chứng được toàn bộ Pháp thân. Tất cả mọi cõi giới, tất cả “sum la vạn tượng”… đều “nằm” trong “Pháp thân” của các ngài. Vì vậy “chú” do các vị lập nên, một khi đã tuyên ra, thì ngay lập tức, có thể tác động tới mọi cõi giới, bao trùm mọi cõi giới mà không gặp bất kì một trở ngại nào. Cùng một lúc, nó có thể tác động tới vô lượng, vô biên chúng sinh…

 Song, “chú” của chư vị Phật, Bồ Tát lập ra chỉ là một trong những “phương tiện thiện xảo”. Nó nhằm vào một mục đích duy nhất là “độ” cho tất cả mọi loại chúng sinh được giải thoát hoặc tiến tới giải thoát, cứu vớt mọi loại chúng sinh ra khỏi “nhất thiết khổ ách”…

Vậy ai là những người tuân theo những “chú” đó của chư vị Phật, Bồ Tát? Ai là những người “chấp hành” những “mệnh lệnh” đó?

Tùy theo mục đích, tác dụng chung hay tác dụng riêng biệt được “quy ước” khi lập “chú”, mà mỗi câu “chú”, mỗi bài “chú” sẽ tác động đến những “đối tượng” nhất định trong một vài hoặc vô số cõi giới khác nhau.

Những “đối tượng” chấp hành mà “chú” của chư vị Phật, Bồ Tát hướng tới là những vị thiện thần (các vị thần, thành hoàng, sơn thần, thổ địa…), các chư thiên, các vị thánh, chư vị Bồ Tát, chư vị Phật… nằm trong phạm vi “quy ước”, khi nghe tuyên “chú” sẽ ngay lập tức “có mặt” dưới dạng ẩn thân, hóa thân hay thị hiện bằng cách này, cách khác, làm công việc yểm trợ, hộ trì, nhiếp tâm, cứu độ, v,v… đối với một hoặc nhiều chúng sinh (thậm chí đối với cả một cõi giới…) đang có nhu cầu hộ trì.

Ngoài ra, để hộ trì, bảo vệ chúng sinh, bảo vệ Phật pháp… hoặc những mục đích đặc biệt nào đó không thể nghĩ bàn, chư vị Phật, Bồ Tát còn lập ra những câu chú, bài “chú” có tính chất đặc biệt, giới hạn, có một tác dụng siêu việt nào đó (di dời một quả núi hay cứu chúng sinh ra khỏi các nạn thủy, hỏa, ác thú… chẳng hạn) hoặc nhằm hàng phục một hay nhiều loại ma, từ ma dân, ma nữ… cho đến tận ma vương cao nhất.

Xin lưu ý, “chú” của chư vị Phật, Bồ Tát không chỉ thể hiện dưới dạng là những “mật ngữ” (phát ngôn ra lời chú), mà đôi khi còn được thể hiện (hoặc riêng biệt, hoặc kết hợp với “chú”) dưới dạng những cử chỉ, hành động đặc biệt (ví dụ 42 “thủ nhãn ấn pháp” trong chú Đại Bi của Quán Thế Âm Bồ Tát) mà thế gian quen gọi nôm na là “bắt quyết”…

Vậy tại sao “chú” chỉ đơn thuần là những phát ngôn (nhiều khi vô nghĩa, hết sức vô nghĩa), hoặc chỉ đơn thuần là những động tác… lại có thể có hiệu nghiệm?

Như trên đã nói, trước tiên là người lập ra “chú” (chủ thể của “chú”). Cảnh giới giác ngộ, hay trạng thái giải thoát của những bậc có thể lập ra “chú” nằm ở quả vị từ A Na Hàm (hoặc tương đương) trở lên là những cảnh giới mà những hạng chúng sinh (phàm tục) như chúng ta không thể nghĩ bàn. Đó thực sự là những bậc “siêu nhân loại” đã trừ được một phần cho đến đã trừ hết vô minh, đã khai thông “pháp giới tính”, chứng nhập “Như Lai tạng”, chứng nhập một phần cho đến chứng nhập toàn bộ Pháp thân… Vì thế mà nguyện lực (hay quyền năng) của các vị vô cùng to lớn, vô cùng mạnh mẽ không thể nghĩ bàn. Nói theo khoa học thế gian thì đó là những bậc tuy vẫn tồn tại trong không gian của chúng ta, nhưng trạng thái của họ là trạng thái trực kiến từ không gian 4 chiều trở lên… mà con người phàm chúng ta ở trạng thái không gian 3 chiều không thể cảm nhận được.

Những nguyện lực (hay quyền năng) đó ở ma vương thể hiện ra thành sức mạnh của tham vọng thống trị một bộ phận cho đến thống trị toàn bộ chúng sinh, nó cản trở hay phá hoại con đường tiến tới giác ngộ, giải thoát của từng người cho đến tuyệt đại đa số chúng sinh…

Những nguyện lực (hay quyền năng) đó ở chư vị Phật, Bồ Tát thể hiện ra thành sức mạnh của lòng từ bi. Vì một khi đã chứng được Pháp thân thì bất cứ chúng sinh nào cũng đều nằm trong Pháp thân của các ngài, là một phần Pháp thân của các ngài…

Thứ đến là những đối tượng “chấp hành” những “chú” đó.

Đối với ma vương, đó là những đồ chúng, quyến thuộc ở khắp các cõi giới kể cả cõi phàm trần. Những hạng này, tùy theo căn cơ, đạo hạnh, cũng có một nguyện lực (hay quyền năng) nhất định, hoặc thậm chí sẽ được gia trì, nhiếp tâm để (tạm thời) tăng thêm sức mạnh của nguyện lực trong khi thực hiện những “chỉ thị” quy ước của câu “chú”, bài “chú”…

Đối với chư vị Phật, Bồ Tát, chấp hành “chú” là những người đã chứng được ít nhất từ một đến nhiều cảnh giới khác cảnh giới của cõi phàm trần (các vị thần), là những vị có phước báo rất dày (chư thiên), những bậc đã đắc đạo giải thoát (các vị thánh, chư vị Bồ Tát… Phật). Pháp thân của các vị trùm khắp mọi cõi giới, tựa như các vị luôn luôn “có mặt” khắp mọi nơi, bất kể không gian và thời gian vậy. Nguyện lực (hay quyền năng) của những bậc này hoặc có sẵn, hoặc được gia trì là không thể nghĩ bàn.

Vậy điều kiện nào để “chú” có hiệu lực?

Có vô vàn cách thể hiện cũng như cách hiểu và giải thích vấn đề này. Chỉ riêng “chú” của ma vương xưa nay vốn đã nhiều như cát sông Hằng. Nhưng mục đích chính của nó là hại đời, phá đạo, nên phần lớn đều thể hiện dưới dạng những “mật chú”, chỉ những đệ tử, quyến thuộc thân cận lắm của ma vương thì mới được trao. Ví dụ câu chuyện sau đây:

Trần Đại tiên người xứ Thanh Hóa thuở chưa đắc đạo là một người tu hành có đức hạnh rất cao, mỗi lần ông nhập sâu vào định thì ma vương trú ở quả núi gần đó lại cảm thấy quả núi rung chuyển như muốn lún sâu xuống. Ma vương vì thế kinh sợ, mấy lần muốn phá mà chưa được. Bèn cho một đệ tử đến cất nhà bên cạnh, giả làm một người hàng xóm tốt bụng để theo dõi. Trong nhà treo một cành phan nhúng sơn lòe loẹt, lại giao cho mật chú đựng trong túi gấm, dặn rằng khi nào thấy cành phan rung động thì có nghĩa là Trần sắp đắc đạo, hãy lập tức mở túi gấm, trong đó có một mảnh thẻ tre, một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng. Đọc 3 lần câu thần chú chép trên mặt màu đỏ để khiến Hỏa thần tới phóng hỏa đốt chết Trần. Khi thấy cành phan hết rung nghĩa là Trần đã chết, lúc đó hãy đọc câu chú chép ở mặt trắng để Hỏa thần rút đi. Hôm ấy Trần có việc đạo ở làng bên cạnh, giao cho một con khỉ nhỏ ở lại trông nhà. Con khỉ này Trần nuôi đã lâu, tính rất nghịch ngợm. Tối hôm đó, nhân lúc chủ vắng nhà, con khỉ bèn vượt rào chạy sang ngó vào nhà gã hàng xóm. Thấy giữa nhà treo cành phan xanh đỏ tím vàng nom rất vui mắt, nó bèn tìm cách chui vào rồi nhảy tót lên cành phan đùa giỡn. Gã đệ tử đang mơ màng, bỗng dưng thấy cành phan rung tít bèn lật đật mở túi gấm, lấy chú ra đọc. Lập tức, bên nhà Trần lửa cháy ngút trời. Lửa cháy lan sang nhà gã đệ tử. Song gã vẫn không dám đọc câu chú chép trên mặt thẻ màu trắng vì thấy cành phan vẫn rung bần bật. Đến lúc gã nhận ra nguyên nhân thì không kịp nữa rồi. Cả căn nhà cùng gã đều bị Hỏa thần thiêu rụi. Riêng con khỉ, tới phút chót nó vẫn kịp phóng qua đám lửa mà chạy thoát ra ngoài… Trần về sau đắc đạo, dùng ngũ thông “quán” khắp các cõi giới. Mới biết con khỉ té ra là một vị A La Hán hóa thân thị hiện để hộ trì ngầm…

“Chú” của chư vị Phật, Bồ Tát vì mục đích hộ trì chúng sinh nên phần lớn không phải “mật chú”, bất cứ ai cũng có thể đọc, niệm hoặc trì chú. Cũng có những “mật chú” của tam thế chư Phật, Bồ Tát, của chư vị Tổ nhằm giúp người tu hành mau chóng khai thông trí huệ, chứng ngộ đạo quả trong các pháp môn tu như Mật Tông, Kim Cang thừa… Tuy nhiên, dù là “mật chú” hay “thường chú”, thì muốn có hiệu lực hay không, điều quan trọng nhất vẫn nằm ở chính hành giả, ở chính người đọc hoặc trì chú. Cũng như tất cả các pháp môn tu theo đạo Phật, người trì chú cốt yếu phải có trong tâm của mình 3 món “tư lương”, đó là “tín”; “nguyện”; “hạnh”. Có đức tin rồi, song trong lúc trì chú, vẫn cần thiết phải có cái tâm thanh tịnh, càng thanh tịnh thì hiệu lực của “chú” càng mạnh. Tâm không thanh tịnh thì dẫu có niệm cũng như không, thậm chí gây hậu quả không thể lường được. Câu chuyện niệm “chú biến thực” mà hóa ra toàn… chìa khóa đầy khắp hư không của một vị sư là một thí dụ. Trái lại, niệm chú mà đạt tới trạng thái thanh tịnh tuyệt đối thì cũng tựa như niệm Phật đạt tới cảnh giới “tam muội”, cảnh giới “nhất tâm bất loạn” vậy. Kết quả đạt được từ những cảnh giới đó là điều vô cùng huyền diệu và không thể nghĩ bàn.

Cuối cùng, một điều mà tất cả những người theo đạo Phật cần phải biết, đó là sự gia trì, ủng hộ của các vị thiện thần, chư thiên, của các vị thánh, chư vị Phật, Bồ Tát… đối với đệ tử, con cháu nhà Phật thì không chỉ diễn ra trong lúc niệm chú. Kể cả trong những lúc phật tử tụng kinh, niệm Phật, trong những pháp tràng thuyết pháp của các vị pháp sư… cũng luôn luôn nhận được những sự hộ trì của các vị ấy. Đây là điều đã được “ấn chứng” và phát nguyện ngay trong lúc giảng giải kinh pháp của chính Đức Phật. Hầu hết các bộ kinh, nhất là các bộ kinh điển Đại thừa, đều có sự phát nguyện của chư thiên, của chư vị Bồ Tát… Trước mặt Đức Phật, các vị đều nguyện sẽ bảo vệ kinh pháp và hộ trì cho bất cứ chúng sinh nào ở những đời sau mỗi khi đọc, tụng hoặc truyền bá kinh đó, kể từ… một câu kệ cho đến toàn bộ bộ kinh. Với “nguyện lực” vô cùng lớn lao của các vị, thì những hộ trì này là điều không thể xem thường. Sự thù thắng không thể nghĩ bàn này quả thực đã hằng tồn tại, hằng diễn ra trong toàn bộ đời sống Phật giáo suốt từ xưa tới nay. Nó thường hằng đến nỗi kể cả các phật tử cũng dường như không cảm thấy điều đó tồn tại. Song đó là một điều có thật và vô cùng cần thiết, không chỉ đối với mỗi phật tử nói riêng, mà đối với toàn bộ chúng sinh nói chung, tựa như không khí đối với sự sống vậy…

10/2013

RELATED ARTICLES

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

Mà đời vẫn say, mà hồn vẫn gió…

NGUYỄN VIỆT CHIỄN Ngày ấy mà Tạo đã thân với Hoàng Cầm, Văn Cao làm tôi choáng, tôi bái phục. Đi chơi với Tạo, tức...

ĐẦU XUÂN VỚI NHÀ THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM

NGUYỄN TRỌNG TẠO Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm và Nguyễn Trọng Tạo Tết Giáp Thân 2004, tôi về ăn Tết ở Huế. Sáng 30 có việc...

1 COMMENT

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -

Most Popular

SINH NHẬT MÙA THU

NGUYỄN TRỌNG TẠO SINH NHẬT MÙA THU Tặng Em Ai giấu trong màu thu Bông cúc xanh tháng bảy Nhìn cánh hoa anh thấy Thu về cùng gió xanh Ai giấu...

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

BỐ VÀ CON

NGUYỄN TRỌNG TẠO Tặng con và bố Tú Con gọi nồng nàn tiếng bố Bố cưng gái rượu yêu kiều  Rồi con thành bà nội ngoại Bố mãi gọi...

KHI XÃ HỘI XUỐNG CẤP, NHÀ THƠ – NGƯỜI Ở ĐÂU?

NGUYỄN TRỌNG TẠO (Nguyễn Đức Tùng thực hiện) Nguyễn Đức Tùng: Rất vui được trò chuyện với anh Nguyễn Trọng Tạo, chàng thi sĩ lãng mạn...

Recent Comments

loctran on THỜI MẠT
Đào Nguyên Lan on THƠ NGUYỄN NGỌC VƯỢNG
tamnguyenxuan55gmail.com on 3 TẢN VĂN CỦA ĐẬU THỊ THƯƠNG
Vương on ĐẤT NƯỚC TÔI
Nguyễn Hoàng Sơn on NHÀ THƠ NGUYỄN DUY VỀ LÀNG
tu sinh on BA THẰNG BẠN
Nguyễn Thanh Cừ on TỔNG THỐNG
Trần Anh Dũng on THƠ ĐẶNG LƯU SAN
Nguyễn Ngọc Phong on “SUY NGẪM” CỦA LÊ THANH DŨNG
Hoàng Trí on NGỤM CHÁO LÚ
Trâu Hà Tĩnh on BA CÂU HỎI CHO HOÀNG HƯNG
sonnghithu@gmail.com on NGƯỜI VỀ TRƯỜNG SA
phamducquy on THƠ VÕ THANH AN
trần vũ long on THƠ VÕ THANH AN
Nguyễn Trường Sơn on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
TRẦN NHUỆ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Nguyễn Thanh Cừ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Lê Kinh Thắng - Tham tán Thương mại tại Nam Phi on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Lê Anh Phong - TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Nguyễn Thị Bích Lài - Đồng hương của hai người hiện ở TP. Pleiku - tỉnh Gialai – Pleiku. on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Phạm Đông on VĂN TẾ CÂY HÀ NỘI
Nguyễn Thanh Cừ on ĐỐI THOẠI VỚI LÝ QUANG DIỆU
Nguyễn Thanh Cừ on XIN ĐỪNG ĐỤNG VÀO CÂY…
Người lái đò on ĐANG SỐNG MÀ ĐÃ BẢO TÀNG…
Phan Thai Duc Hieu on THÂN PHỤ TÔI
THUYTANTHUYTRUONG on TUYẾT NGA
jamesnguyen on CON TUYẾT
jamesnguyen on KIẾP HÀI NHI
Khanh nguyen on NẾU NHƯ KHÔNG… NẾU
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Pham Tien Cat on NGUYỄN HOA VÀ THƠ
Anh Nguyên on CÁI ĐINH ỐC
Nguyễn Thanh Cừ (Hà Nội) on NGUYỄN TRỌNG TẠO HAY ÔNG “ĐỦ MÓN, 5 SAY”
phạm Dũng on SUY NGHĨ VỀ HÒA HỢP
Nguyễn Thị Long on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
nguyễn thị thanh minh on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on VĨNH BIỆT NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG SÁNG
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on KHÚC HÁT SÔNG QUÊ – BÀI CA CỦA MỌI NGƯỜI
Lâm Bích Thủy on THƠ VALENTINE 2014
Anh Nguyên on THƠ VALENTINE 2014
Pham Tuấn Thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguyễn Tiến Dũng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Phạm Trường Thi on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phạm tuấn thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguoi mien nui on QUYẾT LIỆT LÀ… TAN VỠ
Nguyễn Mộng Nhưng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phó thường dân on NGUY CƠ TỪ TRUNG QUỐC
thời đại khoa học on GẶP TƯỚNG GIÁP VÀ NGẪM VỀ NGƯỜI
Nỗi buồn hoa phượng on TRUYỆN CỰC NGẮN: BIẾU SÁCH
Gloomy 1721979 on KINH SÁCH CỦA NƯỚC VỆ
Dân gian: "Nhà văn nói láo, nhà báo nói phét" on NƯỚC ICELAND KÍNH TRỌNG NHẤT NGHỀ VIẾT VĂN
Hoạ sĩ Trần Thị Bích Huệ on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Huỳnh Văn Úc on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Van Duc on HOA MẠC TRẮNG
nguyễncamgiang@yahoo.com.vn on NHỮNG CÁI CHẾT TỨC TƯỞI CỦA NHÀ VĂN
Danh Hiếu on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Nhan Van on HỒI KÝ CA SĨ
Bà Ngoại on HỒI KÝ CA SĨ
Văn Nhân. on HỒI KÝ CA SĨ
Dungquy on HỒI KÝ CA SĨ
Người nhà quê on SUY NGẪM CỦA LÊ THANH DŨNG
nguyenvan on TÔI YÊU VIỆT NAM
Thanh Minh on TÔI YÊU VIỆT NAM
Hoàng Lãng Thụy on INRASARA BÌNH BÀI THƠ “CHIA”
Đỗ Cảnh Thìn on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
ANH NGUYỄN on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Nguyễn thanh Hà on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Thanh nien nghiem tuc on ĐẶNG HUY VĂN DẶN PHƯƠNG UYÊN
Hà quang Minh on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Trọng Hoàng on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Văn Nhân. on HỌC LÀM QUAN
vũ thảo on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on HỌC LÀM QUAN
Nguoi lam thue on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
nguyenvan on HỌC LÀM QUAN
GÀ QUÊ on HỌC LÀM QUAN
montaukmosquito on HỌC LÀM QUAN
Phạm Lưu Vũ on KHÔNG ĐỀ 72
Hạnh Nhung on KHÔNG ĐỀ 72
dinhqn on KHÔNG ĐỀ 72
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Khánh Minh on KHÔNG ĐỀ 72
Nhị Mai on KHÔNG ĐỀ 72
Bá Tiến on TUYẾT NGA
Thanh Minh on TUYẾT NGA
HOÀNG TRƯỜNG SA on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Gloomy 1721979 on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Thập tứ đại ngu. on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
mai thanh sơn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Hồ Muôn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
ANH NGUYỄN on LƯU MANH KẺ CHỢ
ANH NGUYỄN on CHÙM THƠ BIỂN
Thanh Minh on LƯU MANH KẺ CHỢ
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Vũ Xuân Tửu on LƯU MANH KẺ CHỢ
luong thien on LƯU MANH KẺ CHỢ
nguyenvan on LƯU MANH KẺ CHỢ
Phan Thế Thủy on LƯU MANH KẺ CHỢ
T. A. T on THÂN PHỤ TÔI
Lê văn Minh on THÂN PHỤ TÔI
Tô Lê Sơn on THÂN PHỤ TÔI
ANH NGUYỄN on SẮC DỤC
Đỗ Duy Văn on THÂN PHỤ TÔI
Lưu Đinh Anh on SẮC DỤC
hao hao on THÂN PHỤ TÔI
nguyenvan on 23 TẦNG NGƯỜI
Văn Trường Lưu on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Hoàng Văn Hoan on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Trần Thị Bích Huệ on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
nguyen van lung on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Ngô Văn Hải on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Phan Huy Vũ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Trần Thị Bích Huệ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Nguyễn Hữu Đức on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
Nguyễn Thị Chinh on VĂN CAO: TRƯƠNG CHI LÀ TÔI ĐẤY
Nguyen Van Nam on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
Thanh Minh on GIA PHONG XỨ NGHỆ
NGUYỄN VĂN ĐOÀN on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
LÒ LÃO NÔNG/NGUYỄN ĐỨC TOAN on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
(Vẫn là) Cháu ngoan Bác Hồ. on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
nguyễn văn Đức on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người nhà quê on GIA PHONG XỨ NGHỆ
Nguyễn Đắc Vinh on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Ngọc Rô on CÒN ĐÂU SÔNG NHUỆ NGÀY XƯA
Giời Ơi on GIA PHONG XỨ NGHỆ
T Nguyen on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Ha Dinh Van on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Muathuhanoi on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Người VN Yêu Nước on CỦA CE’SAR XIN TRẢ LẠI CHO CE’SAR
nguyenvan on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Nguyên on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Ông Đồ xứ Nghệ on HOÀNG SA LÀ ĐÂU HỞ NGOẠI?
Bác Hồ sống mãi trong sự cay đắng cùa chúng ta! on SỰ NHẦM LẪN LỜI CA “GỬI NGƯỜI EM GÁI MIỀN NAM”
mai ngoc on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Trịnh Công Tiến on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Khách qua đường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đỗ Duy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hà Văn Thịnh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Tăng Bá Hùng on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
trần cường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
phạm văn Lâm on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Hoàng on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hoàng Thiên Thanh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Gia đình Liệt sĩ chống Pháp, chống Mỹ on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
thiên đường XHCN on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Gia Linh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Trường Sơn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Văn An on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Nguyễn Văn An on MINH VƯƠNG
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
ANH NGUYỄN on THƠ XƯA CHƯA CŨ
Biết Tuốt on CHÂN DUNG PHÁC THẢO
Thanh Minh on TUYỆT THỰC
Công Trình on TRƯỜNG SA LÀNG TA
ĐoànhĐoành@ on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
Anh Hoa on TUYỆT THỰC
tù nhân lương tâm on TUYỆT THỰC
mai ngoc on TRƯỜNG SA LÀNG TA
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
kieuhung on TUYỆT THỰC
buncuoiwa on TUYỆT THỰC
Bà Ngoại on PHẠM DUY VÀ TỐ HỮU
Nguyễn Trường Sơn on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Khúc hát sông quê on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Cùng là người HN on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Văn Đức on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
Hoàng Xuân Thảo on THƠ CHO THIẾU NHI: CHÂN VÀ CÁNH
Hoàng Xuân Thảo on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
ĐoànhĐoành@ on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Trần Thường Kiệt on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Trần Thường Kiệt on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Cai nuoc minh no the on LỄ TANG ÔNG HỒ ĐỨC VIỆT
Công Luận on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Phạm Lưu Vũ on LIÊN HOAN THƠ TẠI PHÁP
Hoàng Khải on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
truclamthientruongy on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Móng Rồng on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trần Dân Đen on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trương Duy Nhì on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Hiên ngang, sáng ngời.... on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Triời mô xanh bằng trời Can Lộc on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Phạm Hồng Thái on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Người VN Yêu Nước on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Hồn Ma Võ Văn Kiệt on NGUYỄN KHOA ĐIỀM: SỰ TẦM THƯỜNG
HTvinh on SẮC DỤC
hát xẩm xứ nghệ on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on THƠ LÊ TUẤN LỘC
Nhân Văn Giai Phẩm on NGƯỜI MÊ VĂN HỌC BA LAN
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
D.Nhật Lệ on TÀI – TAI
3 Dê (tên tục Nguyễn Mười-Tạ Dũng, huý tự Nguyễn Chí Dũng) on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
park gil oung on ÁO LỤA VÀ HOA SEN
Người sông Tiền on VĨNH BIỆT NGƯỜI VỀ SÔNG TƯƠNG
Dương Diệu Minh on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
Phương Xa Ty on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
hát xẩm xứ nghệ on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Văn Đức on HUYỀN BÍ VÂN KIỀU
Lương Dũng Hà on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC THƠ LÊ THÁI SƠN
xuân thơm on TẠI SAO VIỆT NAM?
Tran Kim Phuong on CHUYỆN TẮM TIÊN
Văn Đức on DỊU DÀNG
Bà thành on CHUYỆN TẮM TIÊN
Khách qua đường on GẶP GỠ THÁNG TƯ
mai ngoc on C’EST LA VIE! (*)
Nguyễn Hữu Cường on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
PHƯƠNG NAM on 4 PHÚT TUYỆT VỜI
Bất công on C’EST LA VIE! (*)
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
nguyễn xuân on THƠ BÙI MAI HẠNH
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
Vinh on BÁC SĨ THÚ Y
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hát xẩm xứ nghệ on THƠ MỚI CỦA LÊ HUY MẬU
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
Vũ Đức Thắng on NGUYỄN PHAN HÁCH VÀ TÔI
nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hội những người ko được giải là đây on CHÙM THƠ PHẠM ĐƯƠNG
V. Đ. on NGẪU HỨNG
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
ChâuDiên on CỬA LÒ QUÊ CHA
Văn Đức on CỬA LÒ QUÊ CHA
phạm hữu đăng đạt on THẾ HỆ TÔI, MỘT THẾ HỆ CÚI ĐẦU
VIỆT HƯNG on CỬA LÒ QUÊ CHA
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
Biển Đen on THỦ PHẠM
Tiến Hùng on THỦ PHẠM
Người VN Yêu Nước on THỦ PHẠM
Dinh Trung on THỦ PHẠM
Phạm Lưu Vũ on THỦ PHẠM
c on NHÂN DÂN
Văn Đức on CHIẾN TRANH
lanh thu on CHIẾN TRANH
vu vơ on CHIẾN TRANH
Lâm Tú on CHIẾN TRANH
Điện Hải 1858 on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Nguyễn Anh Hùng on CHIẾN TRANH
Thái Doãn Táo on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Bùi Thạch Hãn Cựu chiên binh on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Nguyễn Đức Giang on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
mayhong hồ tây hà nội on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
FAn của Boi on BẠC MỆNH MỘT TÀI HOA!
Nguyễn Xuân Lai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
nhà thơ Nguyễn Thị Mai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Ước mơ dân chủ công bằng on NGHĨ VỀ TRẢ LỜI VTV CỦA ÔNG NGUYỄN ĐÌNH LỘC
Cu Lon on THƠ MẠC MẠC
VIỆT HƯNG on NGÔN NGỮ MỚI
Bich Khe on NGÔN NGỮ MỚI
Nguyễn Xuân Lai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC LÀ NIỀM LẠC THÚ
Bà thành on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Vĩ Trung Ngân on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Đảng ta vĩ đại thật on MỘT BÀI HỌC TỪ PHẠM QUỲNH
108 anh hùng lương sơn bạc on BA SÀM ƠI, NGƯƠI Ở ĐÂU?
108 anh hùng lương sơn bạc on BLOG BA SÀM LẠI BỊ CƯỚP VÀ BỊ XUYÊN TẠC
Nguyễn Đức Tùng on DU TỬ LÊ GIỚI THIỆU TRỊNH SƠN
Phương Xa Ty on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Nguyễn Trường Sơn on CÔNG AN KHÔNG ĐỨNG TRÊN LUẬT
hoanganh lam on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Hung Nguyen on