Thứ Ba, Tháng Sáu 15, 2021
Home Bài của bạn NẾU NHƯ KHÔNG... NẾU

NẾU NHƯ KHÔNG… NẾU

NGUYỄN VĂN DŨNG

Nguyễn Đức Tùng & Nguyễn Văn Dũng
Nguyễn Đức Tùng & Nguyễn Văn Dũng

Mãi vào tuổi thất thập, tôi mới ngộ ra, mọi chuyện ở đời đều do duyên hợp. Chẳng phải cái chi mình muốn là được, chẳng phải cái chi mình không muốn là không được. Như chuyện tôi gặp Nguyễn Đức Tùng, hoàn toàn chỉ là sự tình cờ.

Dịp kỷ niệm 40 năm Mậu Thân, thương bạn, Ngô Minh viết một bài đăng trên báo, nhằm nói với những ai khăng khăng buộc tội ông Tường, rằng vào thời điểm đó, ông Tường không có mặt ở Huế. Không có mà nói là có, thế này mà biểu là thế kia… Chuyện oan khuất không hiểu sao cứ vận vào mỗi mình ông ấy. Đúng là “Bi kịch Hoàng Phủ Ngọc Tường”. Bài viết nhẹ nhàng, chân tình, hay, chỉ tiếc không được kín lắm. Thế là cánh công tố nhao nhao bùm tiếp, không phải với tác giả “Bi kịch Hoàng Phủ Ngọc Tường”, mà chính Hoàng Phủ Ngọc Tường. Có người còn thách ông Tường ngon thì cứ lên tiếng. Trong 10 điều răn của nhà Phật, có điều: oan khuất không cần biện bạch, vì biện bạch là hèn. Tôi phải can ngăn mãi anh ấy mới chịu giữ im lặng. Chuyện tưởng đã lắng xuống, thì như một sự tình cờ, bài thơ “Nếu” ra đời, với lời đề tặng nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Bài thơ lạ quá, hay quá, mà cũng đau quá. Tôi, đôi khi đến cả số điện thoại của mình mà mình không nhớ, vậy mà đọc qua “Nếu” một lần là thuộc ngay, thuộc cả cái tên tác giả hãy còn lạ hoắc.

Tháng 5 vừa rồi, trên đường từ Toronto về nước, tôi dừng lại Vancouver 2 ngày. Tôi meo cho anh bạn Võ Văn Cần, nhờ anh 3 việc. Một là, thu xếp cho tôi gặp bác sĩ Võ Văn Đàn. Anh ấy là người yêu cũ của vợ tôi. Thuở xưa, nhà tôi xinh đẹp, luôn có hàng tá chàng trai tán tỉnh. Anh Đàn bao giờ cũng là người được xếp đầu hàng. Năm tháng qua đi, tôi không khi mô nghe nhà tôi nhắc chi về “người ấy”. Tôi buồn lắm, nhưng chỉ giữ trong lòng. Chao ôi, thế thì ngày xưa tôi không lấy được nàng, giờ tôi cũng chỉ như là mây bay thôi sao! Đàn bà hay thiệt… Hai là, tìm giùm và thu xếp cho tôi gặp nhà thơ Nguyễn Đức Tùng. Tôi chỉ muốn thăm và để hỏi một câu thôi. Và ba là, cho tôi ở nhờ, vì tôi không đủ tiền ở khách sạn. Hôm sau tôi nhận được hồi âm của Cần: Việc một, ba mươi giây, bác sĩ Võ Văn Đàn là chổ bà con. Việc hai, cũng quá dễ, vì Nguyễn Đức Tùng là người quen biết. Việc ba, không được. Lý do, vì nhà chật chội, bất tiện. Thế rồi hôm sau nữa, tôi nhận được meo của Nguyễn Đức Tùng. Bức meo, đại ý: Nghe anh đến thăm Vancouver, rất mong được gặp. Nếu có thể, xin mời anh về ở lại nhà tôi. Sau này, buổi tối trước khi chia tay, tôi vui miệng hỏi. Tùng nói: Không, anh Cần không hề nói chi với em về chuyện ăn ở của anh. Là vì em linh cảm thấy anh cần chổ ở, nên em mời, thế thôi. A, đây là một chi tiết cực kỳ quan trọng. Vì với tâm hồn thơ, thi sĩ hẳn là người có khả năng linh giác. Không chỉ linh cảm về những chuyện vặt trong cuộc sống đời thường, mà còn linh cảm được cả những chuyển biến của thời đại, của nhân loại, của phận người.

Hội ngộ – (từ trái sang): Tác giả, nhà thơ Vân Hải, Đỗ Quyên, Đức Tùng.

Trong số những người đón tôi ở nhà anh Đức Tùng, có bác sĩ Võ Văn Cần, nhà thơ Vân Hải, nhà thơ Đỗ Quyên – người đã “bình” bài “Nếu” một cách xuất sắc và duyên dáng. Hoá ra, không phải chị Đỗ Quyên mà là một quí ông thật thụ. Một đấng trượng phu râu hùm hàm én mày ngài, với nụ cười rộng mở, và cực kỳ hào sảng. Ai cũng bảo tha phương ngộ cố tri là đệ nhị khoái ở đời. Tôi nay ngộ toàn người dưng xa lạ, sao vẫn thấy khoái quá chừng.

Con người ta thường quí cái gì mình không có. Bằng chứng, cánh nhà võ chúng tôi rất ngưỡng mộ văn, còn cánh nhà văn thì rất trân trọng võ. Biết tôi từ Việt Nam sang, lại là một võ sư Karate, các bạn dành cho tôi những tình cảm rất mực. Mà có chi đâu, mấy lon bia, dĩa đậu phụng, và tấm lòng rộng mở… thế là đủ vầy một cuộc luận đàm văn chương đông tây kim cổ. Không biết tôi từng là giảng viên văn, nên hình như các bạn có hơi sững, vì tay võ sư này múa mồm dẽo chẳng kém cạnh chi. Lựa lúc thích hợp, tôi phỏng vấn nhà thơ Nguyễn Đức Tùng: Rằng, bài “Nếu” khắc hoạ rõ nét chân dung Hoàng Phủ Ngọc Tường. Anh chưa từng gặp mặt, chưa từng quen biết ông Tường, thế thì căn cứ vào đâu mà anh vẽ được một cách tài tình đến vậy? Một thoáng suy nghĩ, Đức Tùng nói: Là do em đọc. Em rất ngưỡng mộ văn anh Tường. Trong làng văn Việt Nam hiện nay, theo em, có hai tên tuổi xếp hàng đầu. Một là Nguyễn Khải. Hai là Hoàng Phủ Ngọc Tường. Em đọc anh Tường rất kỹ. Nhờ thế em biết rõ anh Tường. Tôi ngờ là anh mới chỉ trả lời một nửa. Nhưng tôi im lặng. Cuối buổi luận đàm, Tùng còn nói thêm, em viết bài “Nếu” là trên bình diện học thuật chứ hoàn toàn không có ý phê phán anh Tường. Em rất quí và tôn trọng anh ấy. Tôi cũng chỉ im lặng. Hôm sau rời Vancouver, Tùng nhờ tôi mang về biếu anh Tường chai rượu, với lời thăm hỏi ân cần, mong sẽ có ngày gặp. Ông Tường nghe tôi từng thuật đầu đuôi cuộc hội ngộ, anh vui lắm. Mặt mày lai tĩnh, như trẻ lại chục năm. Cho hay, hạnh phúc ở đời thật giản dị – được có người hiểu mình, thương mình, thế là hạnh phúc rồi. Vậy mà không hiểu sao, con người ta lại thích chì chiết nhau hơn là cảm thông, thích oán hờn nhau hơn là yêu thương, chia sẻ. Nhân loại chẳng khôn lên chút nào so với thời còn ăn lông ở lổ.

Té ra, cả ông Tường lẫn Đức Tùng đều là dân Quảng Trị. Cái xứ sỏi đá khô cằn, gió Lào toé lửa, vậy mà sản sinh toàn những tay tài hoa cái thế ở đời, đủ mọi lãnh vực: tôn giáo, chính trị, văn hoá, kinh tế, học thuật… Cụ Lê Duẫn là người Quảng Trị đấy. Còn như cỡ thấp hơn cụ chút xíu thì đếm không xuể. Ông Tường là dân Quảng Trị nhưng lại mang tiếng là người Huế. Có phải vì thế nên đôi khi ông cũng “trạng” ra phết. Ông phán: “Mấy thằng Quảng Trị, suốt đời chỉ có một ước mơ – mơ thành người Huế”. Chi thì tôi không biết, chứ thông minh, chăm chỉ, tài hoa, thì mấy thằng Huế có mơ đến hai đời cũng chưa chắc đã thành.

Thời đi học, tôi chấp mấy tay Quảng Nam, nhưng lại rất ngán cánh Quảng Trị. Học kiểu chi mà sơ mi môn mô cũng đều rơi vào tay Quảng Trị. Đó là nói học năm đệ nhất Quốc Học. Nghe đâu học sinh Nguyễn Hoàng – Quảng Trị còn ghê gớm hơn. Nguyễn Đức Tùng là học sinh Nguyễn Hoàng. Thảo nào, vừa là bác sĩ, vừa là thành viên chủ trì diễn đàn hội luận văn học, lại vừa là thi sĩ làm thơ như trời, rồi còn bao nhiêu mối quan hệ xã hội khác. Anh nói với tôi, mỗi đêm em chỉ ngủ được 4 giờ, còn chương trình trong ngày thì tính bằng phút. Thế mà nhiều vị bác sĩ bên mình đêm nào cũng la cà quán nhậu, thì học hành nghiên cứu kiểu chi mà giỏi quá vậy không biết?

Sự đời, có duyên gặp chưa chắc đã có duyên ở. Là còn tuỳ tính, nết có hợp nhau không. Mấy ngày ngắn ngủi bên nhau, tôi dần dần nhận ra, ở con người quốc tế Nguyễn Đức Tùng, vẫn còn giữ được những phẩm chất đặc trưng Việt Nam. Ví dụ như, rất có hiếu với mẹ. Làm cả bài thơ tặng vợ, nhưng rồi cũng chỉ để hỏi vợ “tóc mẹ trắng màu gì em nhỉ”. Và, nguyện “nên suốt đời anh sẽ làm thơ. Vì xa mẹ biết đâu là mãi mãi”. Trong tập khảo luận “Với Du Tử Lê – đời sống trở nên thơ mộng hơn”, anh dành nguyên một chương nói về mẹ – mẹ của nhà thơ, và mẹ của anh.

Tiển tôi về Huế mấy ngày, anh được tin mẹ ốm, hôn mê, thế là vội khăn gói lên đường về ngay. Về chỉ để ngồi bên mẹ, thế thôi. Tôi meo vài dòng chúc mẹ anh chóng khoẻ, và sống đến trăm tuổi như mẹ tôi. Anh không ngờ tôi vẫn còn mẹ – mẹ tôi thọ đến 103 tuổi đời. Mấy ngày sau thấy mẹ khoẻ khoẻ, từ Sài Gòn anh tranh thủ ra Huế thăm bạn bè quen biết, cả những bạn bè biết nhưng chưa quen. Dịp này, anh đọc tặng thầy trò tôi bài thơ mới nhất của anh, vừa viết trên chuyến bay về thăm mẹ – bài MẸ.
Mẹ đã tám mươi
Người nhỏ lại
Hét lớn bên tai
Mẹ chỉ nghe rì rào gió thổi
Phá vỡ im lặng
Mẹ thu mình lên cây nhãn
Giữa những cái trứng
Của chim sơn ca
Khi mẹ đi xa rồi
Mọi người trong nhà vẫn còn lớn tiếng

Thế đấy, đã không yêu mẹ thì còn yêu được ai. Không có mẹ thì dù tài giỏi đến mấy vẫn chẳng thể làm nên trò trống chi trong đời.

Tôi là dân Huế, nhưng đằng thằng mà nói là dân Huế nhà quê. Quê nghèo làng tôi nằm giữa hai ngọn núi Linh Thái và Tuý Vân. Tuổi thơ tôi lấm bùn đầm phá. Về điểm này tôi giống anh. Quê anh cát bỏng, quê tôi lấm bùn. Chỉ những ai dưới chân bùn đen cát bỏng, mới có khát vọng thoát ra, bay lên. Chứ nếu dưới chân là nhung lụa ngọc ngà, thì chẳng cần đi đâu xa xôi cho mệt. Một trong những tật xấu của người Huế là cái chi của Huế cũng nhất. Ai nói khác giận liền. Huế mãi hoài thua người ta, và sẽ còn thua dài dài là chỗ đó. Phàm cái thùng đã đầy thì không chứa thêm được nữa. Chỉ những ai thông minh mới nhận ra, sự hiểu biết của mình luôn luôn còn thiếu. Và anh, loại người không chấp nhận giới hạn. Luôn luôn thấy mình còn thiếu. Đã học đến tầm bác sĩ, vẫn còn tiếp tục học lên nữa. Học mãi. Với cuộc đời, hình như bao giờ anh cũng là một đệ tử. Anh biết lắng nghe, và lắng nghe rất giỏi. Tôi thích anh cái tính ấy.

Cả trong lãnh vực thơ, anh cũng không chịu dừng lại. Anh làm thơ từ rất sớm. Một trong những bài thơ được bạn bè truyền tụng, ngâm nga, là “Bài cho Hạnh”:
Anh là người làm thơ bất đắc dĩ
Vì thực ra anh có thể chẳng làm thơ
Cũng như em chẳng uống rượu bao giờ
Má vẫn đỏ và môi hồng giản dị
Anh là người làm thơ kỳ bí
Vì thơ anh em chẳng đọc bao giờ
Đi giữa đời như lạc bước trong mơ
Hồn phiêu dạt ngó nghiêng tìm chỗ nghĩ
Nhưng tóc mẹ trắng màu gì em nhỉ
Màu hoa soan màu của tuổi thơ
Áo ai bay dọc đường phượng vĩ
Màu hoa cau ngan ngát đợi chờ
Tóc mẹ trắng màu gì em nhỉ
Mà ta đau tự đáy hồn thơ
Màu tuyết lạnh đầy trời Bắc Mỹ
Lông ngỗng Mỵ Châu xưa bay đến tận bây giờ
Nên suốt đời anh sẽ làm thơ
Vì xa mẹ biết đâu là mãi mãi
Vì xa quê một đời còn ngoái lại
Trời mưa ngâu câu hát giận thương chờ

Thơ anh cũng lẫy lừng, tăm tiếng đấy chứ. Nhưng chẳng lẽ chỉ là chừng đó. Chẳng lẽ từ cụ Phan Khôi, đến Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyên Sa, và mãi mãi về sau, thơ cũng chỉ là vần, là điệu, là khuôn, là thước – cho dù là khuôn vàng thước ngọc. Thế giới thì bao la. Tâm hồn thì diệu vợi. Mọi cánh cửa đều đã mở. Chẳng lẽ cứ tự giam mãi mình trong giới hạn. Chọn lựa nào cũng oanh liệt. Và anh đã chọn. Anh dứt khoát bước ra khỏi lối mòn truyền thống. Trở thành một trong những nhà thơ tiên phong của dòng thơ hiện đại. “Mẹ”. “Nếu”. Là hai trong số những bài thơ tiêu biểu cho chiếc áo mới của thơ anh.
Có người đọc văn anh
Đoán anh là cộng sản
Có người đọc văn anh
Đoán anh là phản kháng
Có người đọc văn anh
Đoán anh là chết nhát
Bọn chúng đều trật lất
Nếu nước thật trong xanh
Anh mới đúng là anh
Nhưng nước không trong xanh

Còn một điểm nữa tôi tâm đắc ở Nguyễn Đức Tùng. Đó là chất quê nhà thấm đẫm tâm hồn anh. Tôi đặc biệt dị ứng với các nhà trí thức, từng viết sách nọ sách kia, và hàng chục bài hay ho về văn hoá Việt Nam, con người Việt Nam. Nhưng con cái họ thì không nói được tiếng Việt. Thế nghĩa là không biết lịch sử, không biết con người và văn hoá dân tộc. Anh thì khác. Con trai đầu lòng của anh vừa mới đi lẫm chẫm, đã bập bẹ mấy tiếng ba, mẹ, chào… Nhà anh có cả cây trúc, cây mai gợi nhớ vườn xưa – đã sang tháng năm, bên mình vào hè, bên ni cây mai nhà anh vẫn trổ hoa. Chỉ mỗi bông mai thôi bên cửa sổ, mà chan chứa cả một trời Việt Nam.

Trong khu vực, nhà anh trông không khác chi mấy nhà khác, nhưng xem ra chẳng giống nhà nào. Không phải vì trước cửa nhà anh có chậu trúc thật lớn. Không phải do cách bài trí nội thất rất riêng. Cũng không phải chủ nhân của nó da vàng mũi tẹt. Nhưng rõ ràng, có cảm giác như ta đang ở trong ngôi nhà đâu đó trên quê mình.

Trước nhà Nguyễn Đức Tùng

Luôn luôn, xen trong câu chuyện của anh là nồng nàn những kỷ niệm về quê hương, cha mẹ, người thân, cây đa, bến nước, con đò, cả em (tất nhiên). Tôi muốn chép nguyên vào đây thêm một bài thơ nữa của anh, bài “Thư gửi quê nhà” – không biết gửi quê nhà hay anh gửi ai.
Anh có nhớ về thăm Thạch Hãn
Chiều qua đò chắc có mưa thưa
Gió sẽ thổi từ bên tả ngạn
Như lòng anh thổi mãi một tình xưa
Em có nhớ về thăm chợ Sãi
Qua chùa Tỉnh Hội nón nghiêng che
Đi ăn bánh ướt chiều mưa nhỏ
Để thấy môi ai đỏ lối về
Chiếc tráp ngày xưa chị để đâu
Những thư tình cũ có phai màu
Ngọc lan ép giữa hai bài hát
Chắc vẫn còn thơm trong đêm thâu
Anh có nhớ về thăm gác trọ
Hỏi thăm bè bạn những phương nào
Hỏi chí lớn tà dương cháy đỏ
Mộng tường vi mấy đoá rụng ngang đầu
Gõ nhịp mà ca dạ lý hương
Mười năm rồi lại mười năm trường
Những cánh cửa đêm nay vẫn thức
Đất nước dài như khói một nhành hương
Hoa trong hội theo ngày xanh biền biệt
Tình thiên thu còn một bến giang đầu
Em có nhớ mặc áo vàng như nguyệt
Đêm qua đò trăng hỏi tuổi thơ đâu

Hình như quê hương Quảng Trị bàng bạc đâu đó quanh nhà. Hình như con sông Thạch Hãn vẫn dào dạt chảy qua đời anh, dài theo tháng năm lưu lạc. Hình như…

Vâng. Nếu như không có bài Nếu, chắc tôi không gặp nhà thơ Nguyễn Đức Tùng, không có thêm những người bạn mới, không biết chi hoặc chỉ biết lơ mơ về ngôi trường Nguyễn Hoàng và bạn bè của anh một thuở.

Suốt hai ngày lang thang với Festival Huế, họ chỉ chăm chăm nói về ngôi trường xưa, thầy cô, bạn bè, ai đó… Nói say sưa, nói trìu mến, nói tự hào, nói đi nói lại. Tôi từng nghĩ, trường Nguyễn Hoàng của anh đem so với trường Quốc Học của tôi thì chỉ như viên đá so với trái núi. Mãi bây giờ tôi mới biết, trong lúc trái núi của tôi vẫn mờ mờ sương khói, thì viên đá của anh phát ra thứ ánh sáng rất lạ. Thứ ánh sáng chói lọi suốt một đời, chỉ đường ai lạc lối, soi tỏ nẻo ta về. Ngôi trường như thế tất học trò như thế. Học trò như thế tất ngôi trường như thế. Ngôi trường như thế, học trò như thế, thì kể hoài không chán, nhắc mãi chưa bưa, chẳng có chi là lạ.

Nguồn: Nghĩa Dũng Karate

RELATED ARTICLES

SINH NHẬT MÙA THU

NGUYỄN TRỌNG TẠO SINH NHẬT MÙA THU Tặng Em Ai giấu trong màu thu Bông cúc xanh tháng bảy Nhìn cánh hoa anh thấy Thu về cùng gió xanh Ai giấu...

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

BỐ VÀ CON

NGUYỄN TRỌNG TẠO Tặng con và bố Tú Con gọi nồng nàn tiếng bố Bố cưng gái rượu yêu kiều  Rồi con thành bà nội ngoại Bố mãi gọi...

3 COMMENTS

    • @ vo thuc

      Nếu

      (Tặng Hoàng Phủ Ngọc Tường)

      Có kẻ đọc văn anh
      Đoán anh là cộng sản

      Có kẻ đọc văn anh
      Đoán anh là phản kháng

      Có kẻ đọc văn anh
      Đoán anh là chết nhát

      Bọn chúng đều trật lất

      Nếu nước thật trong xanh
      Anh mới đúng là anh

      Nhưng nước không trong xanh

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -

Most Popular

SINH NHẬT MÙA THU

NGUYỄN TRỌNG TẠO SINH NHẬT MÙA THU Tặng Em Ai giấu trong màu thu Bông cúc xanh tháng bảy Nhìn cánh hoa anh thấy Thu về cùng gió xanh Ai giấu...

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

BỐ VÀ CON

NGUYỄN TRỌNG TẠO Tặng con và bố Tú Con gọi nồng nàn tiếng bố Bố cưng gái rượu yêu kiều  Rồi con thành bà nội ngoại Bố mãi gọi...

KHI XÃ HỘI XUỐNG CẤP, NHÀ THƠ – NGƯỜI Ở ĐÂU?

NGUYỄN TRỌNG TẠO (Nguyễn Đức Tùng thực hiện) Nguyễn Đức Tùng: Rất vui được trò chuyện với anh Nguyễn Trọng Tạo, chàng thi sĩ lãng mạn...

Recent Comments

loctran on THỜI MẠT
Đào Nguyên Lan on THƠ NGUYỄN NGỌC VƯỢNG
tamnguyenxuan55gmail.com on 3 TẢN VĂN CỦA ĐẬU THỊ THƯƠNG
Vương on ĐẤT NƯỚC TÔI
Nguyễn Hoàng Sơn on NHÀ THƠ NGUYỄN DUY VỀ LÀNG
tu sinh on BA THẰNG BẠN
Nguyễn Thanh Cừ on TỔNG THỐNG
Trần Anh Dũng on THƠ ĐẶNG LƯU SAN
Nguyễn Ngọc Phong on “SUY NGẪM” CỦA LÊ THANH DŨNG
Hoàng Trí on NGỤM CHÁO LÚ
Trâu Hà Tĩnh on BA CÂU HỎI CHO HOÀNG HƯNG
sonnghithu@gmail.com on NGƯỜI VỀ TRƯỜNG SA
phamducquy on THƠ VÕ THANH AN
trần vũ long on THƠ VÕ THANH AN
Nguyễn Trường Sơn on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
TRẦN NHUỆ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Nguyễn Thanh Cừ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Lê Kinh Thắng - Tham tán Thương mại tại Nam Phi on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Lê Anh Phong - TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Nguyễn Thị Bích Lài - Đồng hương của hai người hiện ở TP. Pleiku - tỉnh Gialai – Pleiku. on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Phạm Đông on VĂN TẾ CÂY HÀ NỘI
Nguyễn Thanh Cừ on ĐỐI THOẠI VỚI LÝ QUANG DIỆU
Nguyễn Thanh Cừ on XIN ĐỪNG ĐỤNG VÀO CÂY…
Người lái đò on ĐANG SỐNG MÀ ĐÃ BẢO TÀNG…
Phan Thai Duc Hieu on THÂN PHỤ TÔI
THUYTANTHUYTRUONG on TUYẾT NGA
jamesnguyen on CON TUYẾT
jamesnguyen on KIẾP HÀI NHI
Khanh nguyen on NẾU NHƯ KHÔNG… NẾU
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Pham Tien Cat on NGUYỄN HOA VÀ THƠ
Anh Nguyên on CÁI ĐINH ỐC
Nguyễn Thanh Cừ (Hà Nội) on NGUYỄN TRỌNG TẠO HAY ÔNG “ĐỦ MÓN, 5 SAY”
phạm Dũng on SUY NGHĨ VỀ HÒA HỢP
Nguyễn Thị Long on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
nguyễn thị thanh minh on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on VĨNH BIỆT NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG SÁNG
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on KHÚC HÁT SÔNG QUÊ – BÀI CA CỦA MỌI NGƯỜI
Lâm Bích Thủy on THƠ VALENTINE 2014
Anh Nguyên on THƠ VALENTINE 2014
Pham Tuấn Thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguyễn Tiến Dũng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Phạm Trường Thi on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phạm tuấn thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguoi mien nui on QUYẾT LIỆT LÀ… TAN VỠ
Nguyễn Mộng Nhưng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phó thường dân on NGUY CƠ TỪ TRUNG QUỐC
thời đại khoa học on GẶP TƯỚNG GIÁP VÀ NGẪM VỀ NGƯỜI
Nỗi buồn hoa phượng on TRUYỆN CỰC NGẮN: BIẾU SÁCH
Gloomy 1721979 on KINH SÁCH CỦA NƯỚC VỆ
Dân gian: "Nhà văn nói láo, nhà báo nói phét" on NƯỚC ICELAND KÍNH TRỌNG NHẤT NGHỀ VIẾT VĂN
Hoạ sĩ Trần Thị Bích Huệ on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Huỳnh Văn Úc on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Van Duc on HOA MẠC TRẮNG
nguyễncamgiang@yahoo.com.vn on NHỮNG CÁI CHẾT TỨC TƯỞI CỦA NHÀ VĂN
Danh Hiếu on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Nhan Van on HỒI KÝ CA SĨ
Bà Ngoại on HỒI KÝ CA SĨ
Văn Nhân. on HỒI KÝ CA SĨ
Dungquy on HỒI KÝ CA SĨ
Người nhà quê on SUY NGẪM CỦA LÊ THANH DŨNG
nguyenvan on TÔI YÊU VIỆT NAM
Thanh Minh on TÔI YÊU VIỆT NAM
Hoàng Lãng Thụy on INRASARA BÌNH BÀI THƠ “CHIA”
Đỗ Cảnh Thìn on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
ANH NGUYỄN on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Nguyễn thanh Hà on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Thanh nien nghiem tuc on ĐẶNG HUY VĂN DẶN PHƯƠNG UYÊN
Hà quang Minh on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Trọng Hoàng on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Văn Nhân. on HỌC LÀM QUAN
vũ thảo on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on HỌC LÀM QUAN
Nguoi lam thue on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
nguyenvan on HỌC LÀM QUAN
GÀ QUÊ on HỌC LÀM QUAN
montaukmosquito on HỌC LÀM QUAN
Phạm Lưu Vũ on KHÔNG ĐỀ 72
Hạnh Nhung on KHÔNG ĐỀ 72
dinhqn on KHÔNG ĐỀ 72
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Khánh Minh on KHÔNG ĐỀ 72
Nhị Mai on KHÔNG ĐỀ 72
Bá Tiến on TUYẾT NGA
Thanh Minh on TUYẾT NGA
HOÀNG TRƯỜNG SA on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Gloomy 1721979 on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Thập tứ đại ngu. on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
mai thanh sơn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Hồ Muôn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
ANH NGUYỄN on LƯU MANH KẺ CHỢ
ANH NGUYỄN on CHÙM THƠ BIỂN
Thanh Minh on LƯU MANH KẺ CHỢ
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Vũ Xuân Tửu on LƯU MANH KẺ CHỢ
luong thien on LƯU MANH KẺ CHỢ
nguyenvan on LƯU MANH KẺ CHỢ
Phan Thế Thủy on LƯU MANH KẺ CHỢ
T. A. T on THÂN PHỤ TÔI
Lê văn Minh on THÂN PHỤ TÔI
Tô Lê Sơn on THÂN PHỤ TÔI
ANH NGUYỄN on SẮC DỤC
Đỗ Duy Văn on THÂN PHỤ TÔI
Lưu Đinh Anh on SẮC DỤC
hao hao on THÂN PHỤ TÔI
nguyenvan on 23 TẦNG NGƯỜI
Văn Trường Lưu on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Hoàng Văn Hoan on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Trần Thị Bích Huệ on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
nguyen van lung on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Ngô Văn Hải on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Phan Huy Vũ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Trần Thị Bích Huệ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Nguyễn Hữu Đức on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
Nguyễn Thị Chinh on VĂN CAO: TRƯƠNG CHI LÀ TÔI ĐẤY
Nguyen Van Nam on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
Thanh Minh on GIA PHONG XỨ NGHỆ
NGUYỄN VĂN ĐOÀN on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
LÒ LÃO NÔNG/NGUYỄN ĐỨC TOAN on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
(Vẫn là) Cháu ngoan Bác Hồ. on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
nguyễn văn Đức on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người nhà quê on GIA PHONG XỨ NGHỆ
Nguyễn Đắc Vinh on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Ngọc Rô on CÒN ĐÂU SÔNG NHUỆ NGÀY XƯA
Giời Ơi on GIA PHONG XỨ NGHỆ
T Nguyen on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Ha Dinh Van on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Muathuhanoi on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Người VN Yêu Nước on CỦA CE’SAR XIN TRẢ LẠI CHO CE’SAR
nguyenvan on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Nguyên on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Ông Đồ xứ Nghệ on HOÀNG SA LÀ ĐÂU HỞ NGOẠI?
Bác Hồ sống mãi trong sự cay đắng cùa chúng ta! on SỰ NHẦM LẪN LỜI CA “GỬI NGƯỜI EM GÁI MIỀN NAM”
mai ngoc on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Trịnh Công Tiến on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Khách qua đường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đỗ Duy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hà Văn Thịnh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Tăng Bá Hùng on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
trần cường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
phạm văn Lâm on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Hoàng on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hoàng Thiên Thanh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Gia đình Liệt sĩ chống Pháp, chống Mỹ on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
thiên đường XHCN on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Gia Linh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Trường Sơn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Văn An on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Nguyễn Văn An on MINH VƯƠNG
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
ANH NGUYỄN on THƠ XƯA CHƯA CŨ
Biết Tuốt on CHÂN DUNG PHÁC THẢO
Thanh Minh on TUYỆT THỰC
Công Trình on TRƯỜNG SA LÀNG TA
ĐoànhĐoành@ on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
Anh Hoa on TUYỆT THỰC
tù nhân lương tâm on TUYỆT THỰC
mai ngoc on TRƯỜNG SA LÀNG TA
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
kieuhung on TUYỆT THỰC
buncuoiwa on TUYỆT THỰC
Bà Ngoại on PHẠM DUY VÀ TỐ HỮU
Nguyễn Trường Sơn on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Khúc hát sông quê on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Cùng là người HN on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Văn Đức on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
Hoàng Xuân Thảo on THƠ CHO THIẾU NHI: CHÂN VÀ CÁNH
Hoàng Xuân Thảo on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
ĐoànhĐoành@ on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Trần Thường Kiệt on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Trần Thường Kiệt on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Cai nuoc minh no the on LỄ TANG ÔNG HỒ ĐỨC VIỆT
Công Luận on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Phạm Lưu Vũ on LIÊN HOAN THƠ TẠI PHÁP
Hoàng Khải on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
truclamthientruongy on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Móng Rồng on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trần Dân Đen on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trương Duy Nhì on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Hiên ngang, sáng ngời.... on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Triời mô xanh bằng trời Can Lộc on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Phạm Hồng Thái on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Người VN Yêu Nước on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Hồn Ma Võ Văn Kiệt on NGUYỄN KHOA ĐIỀM: SỰ TẦM THƯỜNG
HTvinh on SẮC DỤC
hát xẩm xứ nghệ on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on THƠ LÊ TUẤN LỘC
Nhân Văn Giai Phẩm on NGƯỜI MÊ VĂN HỌC BA LAN
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
D.Nhật Lệ on TÀI – TAI
3 Dê (tên tục Nguyễn Mười-Tạ Dũng, huý tự Nguyễn Chí Dũng) on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
park gil oung on ÁO LỤA VÀ HOA SEN
Người sông Tiền on VĨNH BIỆT NGƯỜI VỀ SÔNG TƯƠNG
Dương Diệu Minh on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
Phương Xa Ty on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
hát xẩm xứ nghệ on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Văn Đức on HUYỀN BÍ VÂN KIỀU
Lương Dũng Hà on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC THƠ LÊ THÁI SƠN
xuân thơm on TẠI SAO VIỆT NAM?
Tran Kim Phuong on CHUYỆN TẮM TIÊN
Văn Đức on DỊU DÀNG
Bà thành on CHUYỆN TẮM TIÊN
Khách qua đường on GẶP GỠ THÁNG TƯ
mai ngoc on C’EST LA VIE! (*)
Nguyễn Hữu Cường on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
PHƯƠNG NAM on 4 PHÚT TUYỆT VỜI
Bất công on C’EST LA VIE! (*)
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
nguyễn xuân on THƠ BÙI MAI HẠNH
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
Vinh on BÁC SĨ THÚ Y
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hát xẩm xứ nghệ on THƠ MỚI CỦA LÊ HUY MẬU
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
Vũ Đức Thắng on NGUYỄN PHAN HÁCH VÀ TÔI
nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hội những người ko được giải là đây on CHÙM THƠ PHẠM ĐƯƠNG
V. Đ. on NGẪU HỨNG
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
ChâuDiên on CỬA LÒ QUÊ CHA
Văn Đức on CỬA LÒ QUÊ CHA
phạm hữu đăng đạt on THẾ HỆ TÔI, MỘT THẾ HỆ CÚI ĐẦU
VIỆT HƯNG on CỬA LÒ QUÊ CHA
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
Biển Đen on THỦ PHẠM
Tiến Hùng on THỦ PHẠM
Người VN Yêu Nước on THỦ PHẠM
Dinh Trung on THỦ PHẠM
Phạm Lưu Vũ on THỦ PHẠM
c on NHÂN DÂN
Văn Đức on CHIẾN TRANH
lanh thu on CHIẾN TRANH
vu vơ on CHIẾN TRANH
Lâm Tú on CHIẾN TRANH
Điện Hải 1858 on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Nguyễn Anh Hùng on CHIẾN TRANH
Thái Doãn Táo on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Bùi Thạch Hãn Cựu chiên binh on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Nguyễn Đức Giang on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
mayhong hồ tây hà nội on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
FAn của Boi on BẠC MỆNH MỘT TÀI HOA!
Nguyễn Xuân Lai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
nhà thơ Nguyễn Thị Mai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Ước mơ dân chủ công bằng on NGHĨ VỀ TRẢ LỜI VTV CỦA ÔNG NGUYỄN ĐÌNH LỘC
Cu Lon on THƠ MẠC MẠC
VIỆT HƯNG on NGÔN NGỮ MỚI
Bich Khe on NGÔN NGỮ MỚI
Nguyễn Xuân Lai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC LÀ NIỀM LẠC THÚ
Bà thành on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Vĩ Trung Ngân on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Đảng ta vĩ đại thật on MỘT BÀI HỌC TỪ PHẠM QUỲNH
108 anh hùng lương sơn bạc on BA SÀM ƠI, NGƯƠI Ở ĐÂU?
108 anh hùng lương sơn bạc on BLOG BA SÀM LẠI BỊ CƯỚP VÀ BỊ XUYÊN TẠC
Nguyễn Đức Tùng on DU TỬ LÊ GIỚI THIỆU TRỊNH SƠN
Phương Xa Ty on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Nguyễn Trường Sơn on CÔNG AN KHÔNG ĐỨNG TRÊN LUẬT
hoanganh lam on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ