Thứ Sáu, Tháng Sáu 18, 2021
Home Bài của bạn NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG

NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG

Phạm Trường Thi
Phạm Trường Thi

NTT: Phạm trường Thi là nhà thơ, vốn có những câu thơ “lệch người” tôi còn nhớ: “Trái tim thi sĩ/ Mang lên lệch người”. Nay thấy anh đổ ra viết truyện ngắn, nhiều báo đăng tải; truyện “Nghệ thuật tình thương” lại được báo Văn Nghệ chọn trong tốp 10 truyện ngắn hay nhất năm 2013, in trong phụ bản báo Tết 2014. Xin giới thiệu cùng bạn.

NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG

Truyện ngắn của PHẠM TRƯỜNG THI

Nghề của Ninh Đức không phải như thế. Điều này xin bảo đảm chắc chắn vì tôi là bạn của anh. Hai đứa cùng tuổi đời, cùng học trường Văn hóa Nghệ thuật, cùng được về làm diễn viên đoàn chèo của tỉnh một ngày. Sống với nhau gần hai chục năm, diễn hàng trăm vở kịch dài, ngắn tôi quá rõ tài năng của Ninh Đức. Chính diện hay phản diện, vai nào anh sắm cũng giỏi, cũng để lại cho người xem những ấn tượng tốt đẹp. Đêm nào Ninh Đức nghỉ diễn, vé bán hụt đi trông thấy. Chẳng thế, tỉnh có bao nhiêu huyện, thành thị thì anh có bấy nhiêu cô gái trẻ đẹp vì mến mộ tài năng mà nhận Ninh Đức là anh kết nghĩa, anh nuôi. Đương nhiên anh chẳng nuôi được các cô ấy bữa nào.

Là diễn viên giỏi, Ninh Đức còn là nhạc công có cỡ. Trống cái, trống con, đàn tam, đàn nguyệt, sáo, nhị, sênh phách đến cả oóc-gan, anh cũng chơi được tất.

Diễn viên đầu bảng của đoàn, vậy mà lương Ninh Đức cũng chỉ bằng lương tôi. Nghĩa là ăn sáng thì thôi ăn trưa, và ngược lại đừng nói gì đến chè, thuốc, bát phở hay cái bánh mì ca đêm. Anh biết mình thiệt, nhưng không một lời kêu ca cấp trên. Cấp trên nào chẳng mắc cái bệnh cố hữu, tăng thu, giảm chi, họ lờ đi. Ninh Đức cứ yên vị mức lương ba cọc ba đồng ấy cho đến ngày anh lấy vợ, sinh con. Vợ anh, một cô diễn viên nghiệp dư trẻ, làm công nhân một cơ sở sản xuất bánh kẹo ở thành phố, kém tuổi anh đến hơn một giáp. Không đẹp nhưng mắn đẻ. Chưa đầy năm năm cưới đã sinh hạ cho Ninh Đức ba thằng “tướng cướp”. Chúng nó lớn như thổi và ăn khỏe như chó. Lương bằng nào thì gạo, thịt bằng ấy. Vợ chồng Ninh Đức thường xuyên phải bóp mồm bóp miệng cho con ăn nên chẳng mấy cả hai vợ chồng cùng gầy như xác ve.

Hình minh hoạ (từ Internet)
Hình minh hoạ (từ Internet)

Nhiều đêm diễn xong vai của mình Ninh Đức ngồi tựa cánh gà sân khấu ngáp. Anh bớt đùa vui, trên đầu một mảng tóc bị nước thời gian nhuộm trắng xóa. Anh ngồi đó vô hồn nhìn bạn diễn. Anh nghĩ gì, giời biết. Một lần tôi ướm hỏi:

– Này. Hay là cậu dẹp tạm cái nghề phù hoa này đi mà lo ăn cho ba “thằng chó đẻ” đã.

Vẫn tiếng cười hề hề, Ninh Đức nói:

– Nghĩ rồi, nhưng tiếc lắm.

– Tiếc cái con rô, con giếc, cậu không biết cái Thụ sắm vai Thái hậu Dương Vân Nga giờ bán xôi ở trên tầu Thống Nhất, thằng Đạt sắm vai Đại vương Trần Hưng Đạo giờ xé vé người vào chợ hay sao ?

– Sân khấu với tớ như “bồ” với nhau rồi. Quyết không bỏ đâu !

– Có thực mới vực được đạo chứ ! Cậu nghe phong thanh họ định phong danh hiệu nghệ sỹ ưu tú cho cậu chứ gì ? Đừng cãi nữa …

– Hão ! Là tớ chỉ không bỏ nghề thôi.

Cuộc đối thoại chấm dứt. Tôi yên trí Ninh Đức “quyết” trăm năm thủy chung với “bồ”, nào ngờ sau lần đi tham gia hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc tổ chức ở Thái Bình trở về; anh túm áo tôi kéo vào phòng hóa trang, vẫn tiếng cười hề hề, anh bảo:

– Tớ phải chuồn thôi cậu ạ.

– Bỏ đoàn ấy à ? Tôi ngạc nhiên hỏi lại.

– Hưu ! Không hưu thì mất sức. Không mất sức thì … Ở thêm: Vợ con tớ chết đói mất.

Ninh Đức nói mà hai mắt trân trân, rơm rớm nước. Dù đã mấy lần giục anh nên tự cứu mình, vậy mà bây giờ khi nghe anh báo tin, tôi vẫn bàng hoàng. Lời tôi bỗng vu vơ:

– Đề nghị đoàn tăng lương chưa ?

– Tăng mươi đồng, chờ hai năm, về quách cho xong.

Tưởng Ninh Đức làm mình làm mẩy chút xíu, nào ngờ, anh về thật.

Ra khỏi tổ chức anh được tự do. Trong tổ chức, kiếm tiền khó, ra ngoài kiếm tiền khó hơn. Ở ngoài đòi hỏi sự năng động bản thân và trước đó là vốn, “Tiền không có đừng mó vào đâu”.

Bao dự định làm ăn của Ninh Đức đều đổ bể, vả lại cái máu sỹ nghề nghiệp trong anh còn rất nặng. Chẳng lẽ ngồi đầu đường với hòm cà – lê, mỏ lết hoặc ấm chè, dăm bao thuốc lá cho bọn choai choai chúng nó sai khiến. Gì thì gì mình cũng là thằng nghệ sỹ vua biết mặt, chúa biết tên. Thân mình dẫu rơm rác nhưng không thể bôi xấu đoàn, ô danh nghệ thuật. Dù cao đạo mấy cũng khó tránh được tiếng réo gọi của cái dạ dày. Về phương diện nào đó, là mệnh lệnh tối cao chẳng ai trốn được. Vả “ba thằng chó” cứ đồng thanh tru lên khi đến bữa. Bịt mõm chúng không đành mà nghe thì như muối sát. Lối Ninh Đức cố tránh lại là đường anh phải đi. Nhưng sự đời không đơn giản, Ninh Đức vác hòm đồ ra đầu phố chưa đầy tuần lễ thì bị chiến dịch làm sạch vỉa hè đô thị hót luôn, anh quay sang bày vài bao thuốc lá, ấm chè Thái ngồi cửa khu tập thể bán. Khách đông, toàn chỗ quen biết cả, cuối ngày kiểm lại sổ nợ dài cỡ gang tay. Hạch toán, lỗ, đành bỏ.

Có người rủ anh sản xuất lồng chim và buôn chim giống. Bùi tai, anh vác cưa đục đi học nghề. Sáng ý, dăm bữa nửa tháng anh thạo việc. Lồng vuông, lồng chữ nhật, lồng chuông, quả đào anh làm thanh thấu, hun bồ hóng, nan óng như sừng, bán chạy được ít bữa phải dẹp tiệm. Gặp dạo tính giời đổi thay, người quê mất mùa, người phố nháo lên lo chạy gạo. Đói, ai rửng mỡ chơi chim. Thực ra chơi chim cũng không dễ. Đám sáo, sẻ chỉ mấy lẻ gạo, vài con cào cào, châu chấu là xong, nhưng đám chim khuyên nhiêu khê lắm. Ưa sạch sẽ đã đành, chúng còn thích chơi hoa. Cứ bắt vào bỏ ra bị hơi tay là ngả cổ chết liền. Trẻ con đứa nào chẳng thích vày chim. Vày chết lại mua. Nhưng mua được vài ba lần chứ mấy. Gặp khi trời giáng cái dịch vi rút H5N1 chim bị diệt hàng loạt, vậy nên mấy ai rồ mà mua lồng không chim.

Với sang nghề của người khác không sống nổi. Ninh Đức nghĩ về nghề của mình. Các cụ dạy: “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” quả không sai. Biết vận dụng, cái nghề đàn hát làm ăn đủ. Quay về nghề của mình là chước tốt nhất. Ninh Đức hạ quyết tâm như thế.

Rất may khi Ninh Đức nghĩ đến điều đó vào giữa lúc thiên hạ thi nhau tổ chức các hội vui tuổi già. Hội vui tuổi già của những người không còn trẻ. Một tổ chức tự nguyện bình đẳng bậc nhất. Hôm qua, hôm kia cụ là cái gì: dân đạp xích lô, bốc vác, bán hàng tầm tầm góc chợ, hoặc giả là trưởng phòng, giám đốc, tướng tá đi nữa thây mặc. Nay tham gia hội bằng nhau phân biệt đẳng cấp ích gì. Phương châm: “Sống vui, sống khỏe” là trên hết. Tháng gặp mặt nhau một lần kể đôi mẩu chuyện vui vui, đọc dăm bài thơ thù tạc, ngẫu hứng rồi bình thưởng cho quên đi cái bức bối ngày thường: quên đi tiếng gọi riết róng từ cuối dốc bên kia của cuộc đời. Hoặc thăm nhau khi trở trời, trái gió. Nhưng rồi dù muốn hay không ai chẳng một lần ra đi. Và không thể không kèn trống. Người chết cần kèn trống như người sống cần dầu đèn vậy.

Ninh Đức phác ra trong đầu một kế hoạch làm ăn, đến từng chi tiết nhỏ nhất. Nhưng tính toán của anh cũng chỉ là bản sao chép sự khôn ngoan của kẻ đi trước, thức thời hơn.

Sớm hôm sau, một người đàn ông gọi cửa. Ông ta tuổi ngoại ngũ tuần, người thấp đậm, tóc còn xanh và nước da còn đỏ đắn. Ông khách hỏi:

– Xin lỗi ! Bác là Ninh Đức ạ ?

– Vâng ! Chính tôi. Ông … Ninh Đức ngỡ ngàng.

Khách cướp lời:

– Ra cổng em gặp giai rồi … Bác là bác đàn nhị giỏi lắm đấy.

– Ông quá khen.

– Không đâu. Bác không biết, chứ em nhớ bác từ cái hồi bác với ông phó chủ tịch tỉnh bây giờ ngày ấy cũng là diễn viên sắm vai vua và quân hầu kia mà. Bác sắm vai vua như vua thật, giỏi lắm. Đúng không nào ?

– Lâu rồi ! Tôi sắm vai vua lâu rồi – Vừa trả lời chua chát, Ninh Đức vừa mở rộng cửa đón khách.

– Đấy đấy. Đích thị mà. Em nhớ. Vậy nên em đánh liều đến nhờ Hoàng thượng giúp cho một tay.

– Khiếu ông thôi. Tôi dân văn nghệ lẩy bẩy, làm gì nổi,

– Không phải khuân vác nặng nề gì đâu bệ hạ ạ. Ai dám phạm thượng. Việc nhẹ nhàng nhưng phi hoàng thượng là không xong.

Khách về, Ninh Đức tựa cửa thẫn thờ nhìn theo hồi lâu.

Thế là anh đã nhận lời. Từ mai anh có việc làm. Một cảm giác lành lạnh dâng lên cổ, lờm lợm.

Ninh Đức đến nơi hẹn. Anh bâng khuâng đứng trước tấm biển quảng cáo mới sơn với những dòng chữ to xanh đỏ lòe loẹt “Trung tâm dịch vụ: Tình thương yêu”. Phục vụ kịp thời đám cưới, đám ma, lễ hội du lịch, Việt kiều yêu nước về thăm Tổ quốc. Người đàn ông đến tìm Ninh Đức hôm qua là giám đốc trung tâm. Ông ta đưa bàn tay mập ú kéo anh ngồi xuống ghế. Rút vội cái bã trầu từ trong miệng vứt ra hè, ông cười sởi lởi.

– Từ nay bác là thành viên chính thức của phường bát âm nhá. Phường lo việc hiếu. Chúng tôi đã tăm cho bác được cái kèn Tàu thứ thiệt đây. Bác trả nửa tiền trước, coi như góp vốn ấy mà, rồi sau hãy hay. Thông cảm cho trung tâm nhá…

Ông kéo từ gầm bàn đưa cho Ninh Đức một cái túi vải trông giống như cái túi của người bắt rắn. Ninh Đức mở túi rút ra cái kèn, cái kèn Tàu chính phẩm, còn tốt. Màu gỗ mun đen bóng. Miệng phễu và khớp nối thân kèn bọc bạc lấp lóa trắng.

Ninh Đức cầm kèn lẳng lặng đứng lên, ông giám đốc níu lại, dặn thêm:

– Bác rà lại mấy cái bản lâm khốc, lưu thủy, xàng xê, nam ai tí nhá, cho nó trơn tru … Lâm khốc mà không “rừng khóc” thì có ra cái đếch. Ông giám đốc cười, phô chiếc răng hở giữa vành môi đỏ quết trầu trông ngồ ngộ.

Ninh Đức cộng tác với trung tâm “Tình thương yêu” chưa đầy ba tháng, tham gia hơn mười đám hiếu xa, gần. Tiền công thu về cộng với khoản trợ cấp mất sức bước đầu chặn đứng được làn sóng đói kém đang ồ ạt tiến công từ mọi phía. Mỗi đám sẻn là hai ngày, Ninh Đức bỏ ra được bốn suất gạo cho vợ con. Anh ăn ở nhà tang chủ. Nhà nghèo rớt mồng tơi thì mâm cơm thợ kèn cũng kha khá. Có rượu, thịt gà, thậm chí giò nem ninh mọc nữa. Nhưng dù thức ăn ngon mấy cỗ đám ma cũng khó nuốt. Nó lợm giọng thế nào ấy. Có thể vì thức ăn để lâu nguội lạnh và cũng có thể cảm giác lạnh vì do âm khí người chết tỏa ra. Phải vài bữa như thế, Ninh Đức mới làm quen được. Quen lúc ăn đồ nóng lại thấy nhạt mồm. Ninh Đức thấy vui vui với công việc. Có tiền và cũng có tiếng nữa. Những người cùng phường bát âm dần dần cảm thấy không thể thiếu anh. Họ mến tính anh vui vẻ, điềm đạm. Họ phục tiếng kèn của anh. Tiếng kèn của anh vượt xa tầm tiếng khóc, bởi nó nỉ non hơn, ai oán hơn nhờ những ngón tay tài hoa biết nhấn nhá những nốt cần nhấn nhá. Tiếng kèn cất lên như xé ruột xé gan người nghe. Nó vắt được cả những giọt nước mắt hiếm hoi từ những trái tim người vô hồn, vô cảm nhất.

Ninh Đức không chỉ thổi những bài xàng xê, lưu thủy, nam ai … quen thuộc, anh sưu tầm tìm được cả liên khúc “thập ân” để dậy lại cho đồng nghiệp. Phường có máu mặt mới chơi nổi liên khúc này. Vì vậy trung tâm “Tình thương yêu” nổi tiếp khắp gần xa không chỉ riêng ở địa bàn của anh mà từ các huyện, thậm chí cả tỉnh bạn nhà có đám cũng tìm đến trung tâm này.

“Thập ân” là mười cái ơn với người quá cố nhờ qua tiếng kèn của con khóc cha, vợ khóc chồng, em khóc anh, cô dì, chú bác, bè bạn khóc người thân. Từ “Thập ân”, Ninh Đức đã nghiên cứu, cải biên thành một bản duy nhất. Dùng bản này có thể khóc cho mọi đối tượng chỉ cần lắp thêm đoạn phía sau cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể. Ví như phần nhạc đệm mở đầu cho các làn điệu. Chèo Bắc Bộ thì: “Rề pha son la đô rê, rê phá rê đô là son phà. Son lá rề”. Còn dân ca Nam Bộ thì: “Đố la son mì pha son đồ, mì pha lá son, phá mi sòn sì rê, son đồ” … chẳng hạn.

Không những thế, khi vào đám, Ninh Đức còn biết lắng nghe những lời rỉ tai khe khẽ. “Nhờ bác khóc cho ! Em là vợ không chính thức của ông ấy… Cháu là con ngoài giá thú…v.v”. Sau mỗi lời đề nghị khe khẽ ấy, họ lại dúi vào anh ít nhất cũng dăm ba chục, cũng có khi cả trăm. Ninh Đức cảm thông với họ, bởi họ không thể khóc lên bằng lời. Khóc lên bằng lời có mà khối sự tan nát, chẳng khác gì lạy ông tôi ở bụi này nên phải nhờ qua tiếng kèn của anh khóc giúp. Bài khóc có sẵn, cứ thế mà thổi ra tiền.

Ninh Đức bỏ ngoài tai những lời dị nghị, dèm pha của bạn bè và đồng nghiệp cũ. Không phải cái máu sỹ khi xưa trong anh đã mất đi mà nay anh đã tìm ra cái triết lý đơn giản của đời thường: “Để mưu sinh, người có thể bán mình”. Anh không bán mình, anh bán sức lao động. Thực ra cái nghề được xem là thấp hèn nhất cũng có lực hấp dẫn riêng của nó. Hấp dẫn bởi hơi ấm nóng của đồng tiền đã đành, còn hấp dẫn bởi những điều mới mẻ nhận ra ở đấy. Ninh Đức chứng kiến bao cuộc đời bao thân phận, bao cảnh ngộ éo le từ những người quá cố. Dù giầu, nghèo, danh giá hèn hạ, thiện – ác và gì gì đi nữa cũng chỉ một lần mà thôi. Ra đi vật vã hay thanh thản chăng cũng chỉ một lần không hơn. Hỡi những người đã nằm xuống, giá ta chỉ cho các người thấy được những vành tang hờ hững, những tiếng khóc cửa miệng của những kẻ đang sống thì hay biết bao. Giá bảo được với các người sự chết là giải thoát thực sự thì yên tâm biết chừng nào.

Ninh Đức nhận ra trên sân khấu cuộc đời, với bất hạnh, anh chỉ là diễn viên đóng vai phụ, không hơn.

Sau những thành công kế tiếp, Ninh Đức được tín nhiệm sắm thêm vai chủ tế. Là con nhà nòi, anh khéo léo mọi thứ. Từ bước đi, cái vòng tay, đến nét mặt, giọng nói đều hài hòa không thừa thiếu một chi tiết nhỏ. Tiếng anh trầm, vang và bi ai lắm. Đọc bài văn tế không khó khăn đối với anh, chẳng qua là một đoạn ngâm xổng trong chèo kéo dài giọng, mà thôi. Cứ sau mỗi đoạn anh cúi đầu ô hô ba tiếng khiến thân nhân người quá cố lại nấc lên từng hồi thảm thiết. Anh hiểu bụng dạ họ, nhưng họ không hiểu anh. Ninh Đức nhập vai như thật bởi đâu anh chỉ tế cho người xấu số, anh tế cả cho những người đang sống. Anh tế cho cả phần đời ba chìm bảy nổi của chính mình.

Thịnh rồi suy, nở rồi tàn đó là cái lẽ thường của giời đất. Cuối tháng ba, Ninh Đức không thấy vợ đèo về nhà những xếp bìa cứng để làm hộp. Cơ sở sản xuất bánh kẹo đã hết mùa làm ăn. Vả, bánh kẹo từ Trung Quốc với màu sắc sặc sỡ, hương vị lạ, giá rẻ như gió mùa đông bắc ào ào tràn qua biên giới. Các cơ sở sản xuất bánh kẹo nhỏ lẻ nội địa không ngóc đầu lên được. Ninh Đức đợi đến ngày hai bảy vẫn chẳng có một đám mời. Nghĩ đến thùng gạo trơ đáy, Ninh Đức buồn, ngồi nhìn trời mưa rơi. Mưa rét nàng Bân thoảng nhẹ như không. Tinh lắm mới nhìn thấy những giọt nhỏ li ti chậm chạp rớt xuống từ đầu lá như những giọt nước mắt. Anh nghĩ vẩn vơ, đến cả những điều thất đức. Kẻ đóng quan tài muốn có đám ma, người bán hoa muốn nhiều đám cưới. Biết làm thế nào được. Thiện và ác, tốt và xấu, thật và giả khó rạch ròi, khó mà né tránh, âu cũng là sự mưu sinh. Anh mơ ước đến một điều không thể nói ra miệng: “Giá mà … Giá mà bây giờ có người…”. Nghĩ, thấy rùng mình như sợ ai đó nhìn thấu được khoảng tối trong anh. Khoảng tối mà người nghệ sỹ không thể có. Điều Ninh Đức trông đợi đã đến cùng với ông giám đốc trung tâm. Ông ngồi trên xe nói vọng vào nhà:

– Đến ngay bác Ninh Đức nhé. Có đám đấy …

Vừa nói xong ông phóng xe đi luôn. Ninh Đức không tin vào tai mình: “Ồ có đám. Có người chết là có gạo ăn, là hết đói”. Cái luân lý ấy cứ âm vang trong đầu. Ninh Đức đâu muốn thế. Anh với tay lấy chiếc kèn đang quặc trên tường, kéo vạt áo lau nhè nhẹ lớp bụi mờ bám bên ngoài chiếc kèn. Màu gỗ mun nổi lên đen óng. Anh lau chiếc lưỡi gà và lắp vào chỗ của nó. Theo bản năng, anh đặt nó lên môi và lồng ngực bỗng căng phồng. “Tò tí te e… e. Tí te tò ò ò …”. Mới có mấy tiếng dạo đầu đó thôi, lũ trẻ xóm đã nhào sang bu đầy ngoài cửa. Mọi lần anh đuổi thẳng cổ; Anh không ưa người khác chúi mũi vào công việc của mình. Cái công việc chẳng hay ho gì. Lần này thì không. Anh vời tất cả lũ trẻ vào nhà, thổi cho chúng nghe theo yêu cầu thính giả, ví như bài: “Không có bao giờ đẹp như hôm nay…”, “Giải phóng miền Nam” và cả “Bé bé bằng bông” nữa. Lũ trẻ thích chí la hét như vỡ chợ. Thây kệ chúng, bữa nay anh đang vui.

Sát giờ hẹn, dẹp đám khán giả nhí, Ninh Đức vội tháo kèn bỏ vào túi vải vắt vai ra đi. Anh đến trung tâm giữa bảy niềm mong đợi của anh em trong phường bát âm. Bảy loại nhạc cụ đã được sắp sẵn sàng như vũ khí để vào trận. Không ai nói ra niềm vui của riêng mình, nhưng nét mặt họ để lộ điều ấy. Niềm vui giống trẻ thơ háo hức chờ đến lượt nhận kẹo.

Bốn chiếc xe đạp cót két vì bi, trục, xích líp đã quá thời hạn sử dụng phải gắng lắm mới đưa được cả phường vượt qua những cái ổ gà, ổ voi để đến nơi đã hẹn.

Vừa bước chân vào sân, chưa ai kịp cởi bỏ mảnh áo mưa khoác trên người thì bà chủ nhà đã ra tận cửa đon đả:

– Chà chà ! Các bác trung tâm “Tình thương yêu” đã đến.

– Chúng tôi đến kịp thời chứ ạ ?

– Đa tạ ! Đa tạ. Gia đình chúng tôi vô cùng cảm kích. Nhưng mà …

– Có cánh khác đến rồi phải không ? Một người trong phường dò hỏi. Bà chủ nhà mím môi suy nghĩ một lát mới chậm rãi:

– Chưa ! Chưa có cánh nào cả, nhưng mà ông ấy nhà tôi … không chết.

– Cho ngậm sâm chứ gì ? Ngậm sâm để kéo dài sự đau đớn là có tội đấy. Ninh Đức chêm vào một câu vô thức.

– Ông ấy tưởng … Người đàn bà chủ nhà xòe hai bàn tay mập ú ra trước mặt khách thanh minh – Ông ấy tưởng người ta cách chức … nên choáng ngất, chứ chưa… Phúc nhà em còn to lắm. Các bác mừng cho… Bà rút từ bao thuốc lá Điện Biên đưa cho mỗi người một điếu.

Ninh Đức cầm điếu thuốc run run, mắt tối sầm lại như bất ngờ bị một quả đấm vào mặt. Anh phải cắn răng mới kìm giữ được câu văng tục đang chực tuôn ra khỏi miệng: “Chia vui cái con khỉ. Định chết thì chết mẹ nó luôn đi lại còn …”.

Trên đường về trung tâm cả phường không ai nói với ai một lời. Hy vọng của họ như những chiếc bong bóng từ hạt mưa rơi thẳng tan ra trên mặt đường rải nhựa.

Ông giám đốc trung tâm bỏ một gói chè ngon ra hãm, người uống, người không, rồi lẳng lặng rút lui ai đi đường nấy. Ninh Đức và hai người nữa được ông níu lại sau. Ông vời ba người ngồi chụm lại, giọng khẽ khàng và bí mật.

– Thôi xin các vị đừng buồn nữa. Có việc rồi đây. Ông rút từ túi ngực ra một mảnh giấy đã nhàu nát, ghé mắt đọc: – Nhà số 13 phố Bờ Hồ kéo dài. Tay này là giám đốc Sở Nội vụ giầu sụ. Hẳn chỉ yêu cầu ba cây: kèn, nhị, trống cơm thôi. Đi đi.

Thấy dư âm sự thất vọng còn vương trên mặt của người nghe ông tiếp:

– Đi đi, chắc ăn rồi. Tôi là tôi dành miếng cho ba vị đấy nhé.

Ninh Đức hờ hững đưa tay cầm mảnh địa chỉ cùng hai người lẳng lặng ra đi. Anh biết không phải mình đi bằng đôi chân mà bằng ánh mắt của vợ và ba thằng “tướng cướp” đang đẩy phía sau.

Ngôi nhà số 13 Ninh Đức đã từng qua cửa vài lần. Trước đây anh tưởng của cơ quan nào đó, ai ngờ nó là nhà riêng của một ông sếp. Ngôi nhà như một chiếc vi la ba tầng, nằm giữa một vườn cây xanh, rộng rãi, tường ghép đá xẻ màu cẩm thạch, được bao quanh bằng một hàng rào cây xén gọn ghẽ, bên trong là rào lưới thép chống B40. Từ chiếc bốt cạnh mép cổng sắt, một người thấp, béo, sải vội đội chân ngắn ngủn bước ra đón khách. Nét mặt và giọng nói toát lên sự quan trọng quá mức vốn có của người phục vụ xếp lớn.

– Mời các vị vào đi. Ông nhà đang đợi.

Đôi chân ngắn ngủi ấy dẫn mọi người qua bậc tam cấp rồi vòng phía sau lên cầu thang tầng hai.

Cửa mở bầy ra một cảnh tượng lạ lùng. Căn phòng hơn ba chục mét vuông, đèn nến sáng trưng. Phía tường chính diện, bên dưới bức trướng đen chữ trắng là chiếc quan tài nhỏ cỡ chỉ bằng cái loa thùng Sô-ni nằm ngang, sơn đỏ chót, quây xung quanh là mấy vòng hoa và trên cùng là một bát hương đẵn bằng thân cây chuối, hương tỏa khói nghi ngút. Ngồi đối diện chiếc quan tài trên một chiếc chiếu hoa trải rộng là một người đàn ông to như con gấu, đầu hói. Chắc là ông chủ. Ông ta đang ở tư thế “thiền”, không quay lại, giọng buồn, xa xôi:

– Các vị cho ông bạn tôi đây bẩy bài. Kết thúc là lưu thủy tiễn đưa. Cứ đủ nghe là được không cần rùm beng làm gì.

Ninh Đức kéo hai đồng nghiệp ngồi xuống phía sau. Anh vừa lắp kèn vừa nhìn chiếc quan tài mi ni, lòng hoang mang “Ông bạn nào nằm trong đó ? Chẳng lẽ ông ta bé nhỏ thế sao. Hay là một đứa trẻ con…”

Bẩy bài đưa đám chơi liền một hơi, chẳng tốn mấy thời gian. Câu cuối bài lưu thủy vừa dứt thì cũng vừa lúc con gấu lồm cồm bò dậy. Ông thắp thêm ba nén hương nữa mới quay lại nói với đám thợ kèn:

– Rồi ! Mời các vị cơm. – Nói xong, ông bỏ sang phòng bên. Người bảo vệ đã chờ sẵn đưa khách xuống nhà bếp. Bếp, nhưng mái bằng, cửa kính, có máy điều hòa nhiệt độ, chùm đèn tuýp sáng rực. Mâm cơm hết chê được bầy sẵn trên bàn.

Mặt người phục vụ lùn bây giờ mới rạng rỡ. Vừa lập cập rót rượu ông vừa hề hề:

– Chư vị cứ xơi no. Ông chủ đây thoáng lắm. Ninh Đức mấy lần gợi điều thắc mắc của mình nhưng ông phục vụ cứ lờ đi, nửa bữa ông mới thổ lộ.

– Chư vị không biết ai nằm trong cái quan tài nhỏ đó chứ gì ? Cậu Luých Ki lai Đức đấy.

– Một con chó ? Ninh Đức kêu lên khe khẽ …

– Chính thế. Một con chó, nhưng là chó tây. Nó là bạn của ông chủ, mang tên thứ rượu mà ông chủ ưa thích.

Thấy chuyện mình hấp dẫn, ông phục vụ bỏ cả đũa bát để có hai tay minh họa cho lời mình nói. Ông tả dáng vóc của con Luých Ki như thế nào. Về chiến công nó  giành được trong việc giữ của. Một đêm khuya chưa lâu không có nó thì ông chủ đã bị hai thằng bịt mặt nhảy qua rào vào nhà đâm chết rồi. Chúng là bọn nghiện ngập, đâm thuê, chém mướn cho ai đó thù hằn với ông chủ thôi chứ ông chủ nào có ăn vàng ăn bạc gì của bọn rác rưởi ấy. Con chó dũng cảm lắm chư vị ạ. Nó nhe hàm răng nhọn hoắt lao ra, chồm lên như điên, lập tức đẩy được hai thằng bịt mặt ra đường. Không có nó ông chủ nay đã xanh cỏ rồi. Từ đấy nó trở thành ân nhân của ông chủ. Ông cho ăn cùng mâm, ngủ cùng chiếu. Ông từng nói: “Đời toàn lừa lọc, đểu giả, chẳng thân ai được, chẳng tin được ai”. Bây giờ ông mới có bạn. Chỉ Luých Ki mới đáng là bạn ông. Hôm qua bạn ông ăn phải bả chết, ông đã khóc thật sự. Ông cho đóng quan tài, mua vải liệm cẩn thận. Vuốt mắt nó không nhắm, ông bảo nó nhớ ông, quyến luyến ông, không muốn xa rời ông. Ông chủ coi Luých Ki là bạn. Bạn chết đương nhiên phải thuê thợ kèn khóc chứ.

Nghe chuyện hai đồng nghiệp của Ninh Đức cười hể hả. Mấy lần họ nâng chén chúc sự may mắn của ông chủ: một con người nhân đức, nghĩa khí. Còn Ninh Đức thấy cổ mình ứ nghẹn, thức ăn trong miệng hóa bồ hòn. Anh nghĩ đến vợ con ở nhà. Ngày giỗ bố, ban thờ độc một nải chuối xanh, dăm quả hồng xiêm se chát. Năm Ất Dậu ông chết không manh chiếu bó thân. Anh nghĩ đến đồng nghiệp cũ. Trăm đêm sắm vai hoàng đế không ăn hết con gà đạo cụ bằng gỗ. Nghĩ đến những bàn tay tha hương xòe ra trước nhà. Bằng lời cầu xin khéo léo và bằng cả mảnh giấy địa phương chứng nhận là người lương thiện để được ấm bụng một lần. Anh nghĩ đến anh: “Thì ra anh và đồng nghiệp vừa khóc chó ! Ôi số tiền công hậu hĩ làm sao. Xót xa làm sao…”.

Ninh Đức bước loạng choạng như kẻ mộng du. Anh cảm thấy trong người có hai luồng khí cứ thay nhau trào lên. Nóng rồi lạnh, lạnh rồi nóng, thật mới mẻ, thật khó tả. Khi lọt vào giữa chợ, anh mới bừng tỉnh. Phải đong gạo và mua thuốc lào. Xong việc anh về ngay.

Mưa nặng hạt hơn. Những hạt mưa tới tấp rơi xuống mái tóc đốm bạc rồi nhỏ xuống ngực áo anh lạnh buốt.

Vợ anh đón từ cửa, quen miệng:

– Xong rồi. Sao, bố nó về sớm ?

– Xong ! Xong tất – Ninh Đức vứt bịch túi gạo xuống nền nhà – Nấu cho chúng nó ăn no một bữa.

– Kèn của bố nó đâu ?

– Trả người ta rồi.

– Thế lúc mình cần … thì sao ?

– Trả thì mai mới có người ta thổi cho mình chứ.

– Tiền đâu mà thuê họ ? Biết lỡ lời vợ Ninh Đức quơ vội túi gạo vào bếp. Ninh Đức nằm vật ra giường thiếp đi một lúc. Tỉnh dậy anh thấy ba thằng con trai đang ngồi dạng háng cạo nồi sồn sột. Nhìn chúng ứa nước mắt. Anh quay ra cửa sổ lẩm bẩm:

– Quân hỗn ! Vớ được là ăn như chó. Chẳng phần bố mày miếng cháy.

(Tác giả gửi NTT)

RELATED ARTICLES

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

Mà đời vẫn say, mà hồn vẫn gió…

NGUYỄN VIỆT CHIỄN Ngày ấy mà Tạo đã thân với Hoàng Cầm, Văn Cao làm tôi choáng, tôi bái phục. Đi chơi với Tạo, tức...

ĐẦU XUÂN VỚI NHÀ THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM

NGUYỄN TRỌNG TẠO Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm và Nguyễn Trọng Tạo Tết Giáp Thân 2004, tôi về ăn Tết ở Huế. Sáng 30 có việc...

11 COMMENTS

  1. iPhone:
    Cam on Bac Trang chu Nguyen Trong Tao va cac Tac gia.
    DAU: Nguoi chet thi minh no, (Poet, Author, …)
    THAM: Nguoi chet de minh to CHUC-QUYEN; (chinh tri gia / politicians)
    Buc tranh van cau (clouds-dogs picture) QUYEN-TIEN,
    Lam cho dat nuoc dao dien (bringing our Nation into chaotic)
    – DAU LONG !!!

    Tran trong.

  2. Xin hỏi thật bác Tạo nhé:-còn có nước nào trên thế gian này …có nhiều nhà thơ..nhà văn…như ta không?? bà bán rau muống ,chị đi buôn ,nhà doanh nghiệp….và ngay cả tử tù cũng lên đồng làm thơ ..người già cũng đẻ ra thơ ,trẻ con. ….cũng học làm thơ….và thế giới có mấy quốc gia có trường dạy viết văn….?????và những nước ít nhà ,ít lều ,ít quán thơ…là những nước có chỉ số ….cảm nhận cái Đẹp thấp phải không ạ…

  3. cảm ơn bác Tạo.Em vào thăm nhà bác thì lại đọc được truyện này hay quá.Anh Thi quê không xa nhà Tú Xương là mấy.

    • cám ơn Phạm Tuấn Thọ, xin được nghe ý kiến phản hổi của các độc giả người việt đang sống tại Đức,

      • “đau đáu cõi lòng con cuốc cuốc,” Xin chia sẻ với nhà thơ Phạm Trường Thi đã vật vã với tình đời !

  4. Rất hay, rất thực và bất ngờ ở nửa cuối câu chuyện…dù có hơi đau lòng cho số phận của nhân vật….cuộc đời vốn là vậy biết làm sao được…
    chúc mừng và cảm ơn tác giả đã có một chuyện ngắn rất hay…

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -

Most Popular

SINH NHẬT MÙA THU

NGUYỄN TRỌNG TẠO SINH NHẬT MÙA THU Tặng Em Ai giấu trong màu thu Bông cúc xanh tháng bảy Nhìn cánh hoa anh thấy Thu về cùng gió xanh Ai giấu...

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

BỐ VÀ CON

NGUYỄN TRỌNG TẠO Tặng con và bố Tú Con gọi nồng nàn tiếng bố Bố cưng gái rượu yêu kiều  Rồi con thành bà nội ngoại Bố mãi gọi...

KHI XÃ HỘI XUỐNG CẤP, NHÀ THƠ – NGƯỜI Ở ĐÂU?

NGUYỄN TRỌNG TẠO (Nguyễn Đức Tùng thực hiện) Nguyễn Đức Tùng: Rất vui được trò chuyện với anh Nguyễn Trọng Tạo, chàng thi sĩ lãng mạn...

Recent Comments

loctran on THỜI MẠT
Đào Nguyên Lan on THƠ NGUYỄN NGỌC VƯỢNG
tamnguyenxuan55gmail.com on 3 TẢN VĂN CỦA ĐẬU THỊ THƯƠNG
Vương on ĐẤT NƯỚC TÔI
Nguyễn Hoàng Sơn on NHÀ THƠ NGUYỄN DUY VỀ LÀNG
tu sinh on BA THẰNG BẠN
Nguyễn Thanh Cừ on TỔNG THỐNG
Trần Anh Dũng on THƠ ĐẶNG LƯU SAN
Nguyễn Ngọc Phong on “SUY NGẪM” CỦA LÊ THANH DŨNG
Hoàng Trí on NGỤM CHÁO LÚ
Trâu Hà Tĩnh on BA CÂU HỎI CHO HOÀNG HƯNG
sonnghithu@gmail.com on NGƯỜI VỀ TRƯỜNG SA
phamducquy on THƠ VÕ THANH AN
trần vũ long on THƠ VÕ THANH AN
Nguyễn Trường Sơn on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
TRẦN NHUỆ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Nguyễn Thanh Cừ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Lê Kinh Thắng - Tham tán Thương mại tại Nam Phi on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Lê Anh Phong - TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Nguyễn Thị Bích Lài - Đồng hương của hai người hiện ở TP. Pleiku - tỉnh Gialai – Pleiku. on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Phạm Đông on VĂN TẾ CÂY HÀ NỘI
Nguyễn Thanh Cừ on ĐỐI THOẠI VỚI LÝ QUANG DIỆU
Nguyễn Thanh Cừ on XIN ĐỪNG ĐỤNG VÀO CÂY…
Người lái đò on ĐANG SỐNG MÀ ĐÃ BẢO TÀNG…
Phan Thai Duc Hieu on THÂN PHỤ TÔI
THUYTANTHUYTRUONG on TUYẾT NGA
jamesnguyen on CON TUYẾT
jamesnguyen on KIẾP HÀI NHI
Khanh nguyen on NẾU NHƯ KHÔNG… NẾU
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Pham Tien Cat on NGUYỄN HOA VÀ THƠ
Anh Nguyên on CÁI ĐINH ỐC
Nguyễn Thanh Cừ (Hà Nội) on NGUYỄN TRỌNG TẠO HAY ÔNG “ĐỦ MÓN, 5 SAY”
phạm Dũng on SUY NGHĨ VỀ HÒA HỢP
Nguyễn Thị Long on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
nguyễn thị thanh minh on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on VĨNH BIỆT NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG SÁNG
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on KHÚC HÁT SÔNG QUÊ – BÀI CA CỦA MỌI NGƯỜI
Lâm Bích Thủy on THƠ VALENTINE 2014
Anh Nguyên on THƠ VALENTINE 2014
Pham Tuấn Thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguyễn Tiến Dũng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Phạm Trường Thi on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phạm tuấn thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguoi mien nui on QUYẾT LIỆT LÀ… TAN VỠ
Nguyễn Mộng Nhưng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phó thường dân on NGUY CƠ TỪ TRUNG QUỐC
thời đại khoa học on GẶP TƯỚNG GIÁP VÀ NGẪM VỀ NGƯỜI
Nỗi buồn hoa phượng on TRUYỆN CỰC NGẮN: BIẾU SÁCH
Gloomy 1721979 on KINH SÁCH CỦA NƯỚC VỆ
Dân gian: "Nhà văn nói láo, nhà báo nói phét" on NƯỚC ICELAND KÍNH TRỌNG NHẤT NGHỀ VIẾT VĂN
Hoạ sĩ Trần Thị Bích Huệ on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Huỳnh Văn Úc on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Van Duc on HOA MẠC TRẮNG
nguyễncamgiang@yahoo.com.vn on NHỮNG CÁI CHẾT TỨC TƯỞI CỦA NHÀ VĂN
Danh Hiếu on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Nhan Van on HỒI KÝ CA SĨ
Bà Ngoại on HỒI KÝ CA SĨ
Văn Nhân. on HỒI KÝ CA SĨ
Dungquy on HỒI KÝ CA SĨ
Người nhà quê on SUY NGẪM CỦA LÊ THANH DŨNG
nguyenvan on TÔI YÊU VIỆT NAM
Thanh Minh on TÔI YÊU VIỆT NAM
Hoàng Lãng Thụy on INRASARA BÌNH BÀI THƠ “CHIA”
Đỗ Cảnh Thìn on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
ANH NGUYỄN on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Nguyễn thanh Hà on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Thanh nien nghiem tuc on ĐẶNG HUY VĂN DẶN PHƯƠNG UYÊN
Hà quang Minh on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Trọng Hoàng on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Văn Nhân. on HỌC LÀM QUAN
vũ thảo on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on HỌC LÀM QUAN
Nguoi lam thue on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
nguyenvan on HỌC LÀM QUAN
GÀ QUÊ on HỌC LÀM QUAN
montaukmosquito on HỌC LÀM QUAN
Phạm Lưu Vũ on KHÔNG ĐỀ 72
Hạnh Nhung on KHÔNG ĐỀ 72
dinhqn on KHÔNG ĐỀ 72
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Khánh Minh on KHÔNG ĐỀ 72
Nhị Mai on KHÔNG ĐỀ 72
Bá Tiến on TUYẾT NGA
Thanh Minh on TUYẾT NGA
HOÀNG TRƯỜNG SA on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Gloomy 1721979 on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Thập tứ đại ngu. on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
mai thanh sơn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Hồ Muôn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
ANH NGUYỄN on LƯU MANH KẺ CHỢ
ANH NGUYỄN on CHÙM THƠ BIỂN
Thanh Minh on LƯU MANH KẺ CHỢ
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Vũ Xuân Tửu on LƯU MANH KẺ CHỢ
luong thien on LƯU MANH KẺ CHỢ
nguyenvan on LƯU MANH KẺ CHỢ
Phan Thế Thủy on LƯU MANH KẺ CHỢ
T. A. T on THÂN PHỤ TÔI
Lê văn Minh on THÂN PHỤ TÔI
Tô Lê Sơn on THÂN PHỤ TÔI
ANH NGUYỄN on SẮC DỤC
Đỗ Duy Văn on THÂN PHỤ TÔI
Lưu Đinh Anh on SẮC DỤC
hao hao on THÂN PHỤ TÔI
nguyenvan on 23 TẦNG NGƯỜI
Văn Trường Lưu on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Hoàng Văn Hoan on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Trần Thị Bích Huệ on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
nguyen van lung on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Ngô Văn Hải on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Phan Huy Vũ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Trần Thị Bích Huệ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Nguyễn Hữu Đức on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
Nguyễn Thị Chinh on VĂN CAO: TRƯƠNG CHI LÀ TÔI ĐẤY
Nguyen Van Nam on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
Thanh Minh on GIA PHONG XỨ NGHỆ
NGUYỄN VĂN ĐOÀN on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
LÒ LÃO NÔNG/NGUYỄN ĐỨC TOAN on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
(Vẫn là) Cháu ngoan Bác Hồ. on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
nguyễn văn Đức on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người nhà quê on GIA PHONG XỨ NGHỆ
Nguyễn Đắc Vinh on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Ngọc Rô on CÒN ĐÂU SÔNG NHUỆ NGÀY XƯA
Giời Ơi on GIA PHONG XỨ NGHỆ
T Nguyen on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Ha Dinh Van on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Muathuhanoi on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Người VN Yêu Nước on CỦA CE’SAR XIN TRẢ LẠI CHO CE’SAR
nguyenvan on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Nguyên on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Ông Đồ xứ Nghệ on HOÀNG SA LÀ ĐÂU HỞ NGOẠI?
Bác Hồ sống mãi trong sự cay đắng cùa chúng ta! on SỰ NHẦM LẪN LỜI CA “GỬI NGƯỜI EM GÁI MIỀN NAM”
mai ngoc on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Trịnh Công Tiến on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Khách qua đường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đỗ Duy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hà Văn Thịnh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Tăng Bá Hùng on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
trần cường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
phạm văn Lâm on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Hoàng on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hoàng Thiên Thanh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Gia đình Liệt sĩ chống Pháp, chống Mỹ on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
thiên đường XHCN on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Gia Linh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Trường Sơn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Văn An on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Nguyễn Văn An on MINH VƯƠNG
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
ANH NGUYỄN on THƠ XƯA CHƯA CŨ
Biết Tuốt on CHÂN DUNG PHÁC THẢO
Thanh Minh on TUYỆT THỰC
Công Trình on TRƯỜNG SA LÀNG TA
ĐoànhĐoành@ on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
Anh Hoa on TUYỆT THỰC
tù nhân lương tâm on TUYỆT THỰC
mai ngoc on TRƯỜNG SA LÀNG TA
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
kieuhung on TUYỆT THỰC
buncuoiwa on TUYỆT THỰC
Bà Ngoại on PHẠM DUY VÀ TỐ HỮU
Nguyễn Trường Sơn on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Khúc hát sông quê on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Cùng là người HN on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Văn Đức on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
Hoàng Xuân Thảo on THƠ CHO THIẾU NHI: CHÂN VÀ CÁNH
Hoàng Xuân Thảo on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
ĐoànhĐoành@ on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Trần Thường Kiệt on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Trần Thường Kiệt on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Cai nuoc minh no the on LỄ TANG ÔNG HỒ ĐỨC VIỆT
Công Luận on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Phạm Lưu Vũ on LIÊN HOAN THƠ TẠI PHÁP
Hoàng Khải on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
truclamthientruongy on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Móng Rồng on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trần Dân Đen on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trương Duy Nhì on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Hiên ngang, sáng ngời.... on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Triời mô xanh bằng trời Can Lộc on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Phạm Hồng Thái on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Người VN Yêu Nước on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Hồn Ma Võ Văn Kiệt on NGUYỄN KHOA ĐIỀM: SỰ TẦM THƯỜNG
HTvinh on SẮC DỤC
hát xẩm xứ nghệ on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on THƠ LÊ TUẤN LỘC
Nhân Văn Giai Phẩm on NGƯỜI MÊ VĂN HỌC BA LAN
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
D.Nhật Lệ on TÀI – TAI
3 Dê (tên tục Nguyễn Mười-Tạ Dũng, huý tự Nguyễn Chí Dũng) on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
park gil oung on ÁO LỤA VÀ HOA SEN
Người sông Tiền on VĨNH BIỆT NGƯỜI VỀ SÔNG TƯƠNG
Dương Diệu Minh on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
Phương Xa Ty on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
hát xẩm xứ nghệ on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Văn Đức on HUYỀN BÍ VÂN KIỀU
Lương Dũng Hà on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC THƠ LÊ THÁI SƠN
xuân thơm on TẠI SAO VIỆT NAM?
Tran Kim Phuong on CHUYỆN TẮM TIÊN
Văn Đức on DỊU DÀNG
Bà thành on CHUYỆN TẮM TIÊN
Khách qua đường on GẶP GỠ THÁNG TƯ
mai ngoc on C’EST LA VIE! (*)
Nguyễn Hữu Cường on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
PHƯƠNG NAM on 4 PHÚT TUYỆT VỜI
Bất công on C’EST LA VIE! (*)
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
nguyễn xuân on THƠ BÙI MAI HẠNH
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
Vinh on BÁC SĨ THÚ Y
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hát xẩm xứ nghệ on THƠ MỚI CỦA LÊ HUY MẬU
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
Vũ Đức Thắng on NGUYỄN PHAN HÁCH VÀ TÔI
nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hội những người ko được giải là đây on CHÙM THƠ PHẠM ĐƯƠNG
V. Đ. on NGẪU HỨNG
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
ChâuDiên on CỬA LÒ QUÊ CHA
Văn Đức on CỬA LÒ QUÊ CHA
phạm hữu đăng đạt on THẾ HỆ TÔI, MỘT THẾ HỆ CÚI ĐẦU
VIỆT HƯNG on CỬA LÒ QUÊ CHA
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
Biển Đen on THỦ PHẠM
Tiến Hùng on THỦ PHẠM
Người VN Yêu Nước on THỦ PHẠM
Dinh Trung on THỦ PHẠM
Phạm Lưu Vũ on THỦ PHẠM
c on NHÂN DÂN
Văn Đức on CHIẾN TRANH
lanh thu on CHIẾN TRANH
vu vơ on CHIẾN TRANH
Lâm Tú on CHIẾN TRANH
Điện Hải 1858 on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Nguyễn Anh Hùng on CHIẾN TRANH
Thái Doãn Táo on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Bùi Thạch Hãn Cựu chiên binh on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Nguyễn Đức Giang on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
mayhong hồ tây hà nội on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
FAn của Boi on BẠC MỆNH MỘT TÀI HOA!
Nguyễn Xuân Lai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
nhà thơ Nguyễn Thị Mai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Ước mơ dân chủ công bằng on NGHĨ VỀ TRẢ LỜI VTV CỦA ÔNG NGUYỄN ĐÌNH LỘC
Cu Lon on THƠ MẠC MẠC
VIỆT HƯNG on NGÔN NGỮ MỚI
Bich Khe on NGÔN NGỮ MỚI
Nguyễn Xuân Lai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC LÀ NIỀM LẠC THÚ
Bà thành on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Vĩ Trung Ngân on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ