Thứ Ba, Tháng Sáu 15, 2021
Home Bài của bạn NGUYỄN BÍNH VÀ BÀI THƠ TẾT BÍNH NGỌ

NGUYỄN BÍNH VÀ BÀI THƠ TẾT BÍNH NGỌ

Nhà thơ Nguyễn Bính
Nhà thơ Nguyễn Bính

NGUYỄN THẾ KHOA

1
Dưới “Bài thơ quê hương” Nguyễn Bính ghi thời điểm sáng tác là “Tết Bính Ngọ, 1966”, nhưng vào Tết Bính Ngọ thì nhà thơ đã không còn. Sáng 20/1/1966, tức 29 tháng chạp Ất Tỵ (30 Tết năm đó), Nguyễn Bính đã vĩnh viễn ra đi sau một cơn thổ huyết bất ngờ tại cầu ao nhà ông Tân Thanh, thường gọi là ông Lang Hứa, người bạn vong niên hết sức hâm mộ thơ ông, ở thôn Mạc Hạ, xã Công Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

Theo ông Tân Thanh thì Nguyễn Bính đã biết trước về cái chết của mình. Trong những ngày năm cùng tháng tận tá túc tại nhà Tân Thanh, mặc dù mới 48 tuổi,  Nguyễn Bính nói với Tân Thanh rằng theo số tử vi, ông sẽ chết trong năm Ất Tỵ. Nhà văn Chu Văn, Trưởng ty văn hóa Nam Hà, nơi Nguyễn Bính là nhân viên hợp đồng, kể rằng khi ra Hà Nội thông báo về cái chết đột ngột của Nguyễn Bính, nhà thơ Trần Lê Văn, vốn là bạn thân của Nguyễn Bính, đã kêu lên kinh ngạc: “Chết trước mồng một, Bính đã lường trước từ bao giờ!”. Trần Lê Văn cho biết trong bài thơ “Nhạc xuân” khai bút năm Canh Thìn, 1940, Nguyễn Bính từng viết: “Năm mới tháng giêng mồng một Tết/Còn nguyên vẹn cả một mùa xuân/… Giờ đây chín vạn bông trời nở/Riêng có tình ta khép lại thôi”. Vậy là từ 26 năm trước Nguyễn Bính đã tiên đoán rằng một ngày ông sẽ khép lại đời mình trước “Năm mới tháng giêng mồng một tết” .

Chu Văn còn nhớ, chuẩn bị cho kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du (1766-1966), ty văn hóa Nam Hà chủ trương tạp chí xuân Bính Ngọ của Ty sẽ ra số đặc biệt về Nguyễn Du. Nguyễn Bính, vốn xem Nguyễn Du là “tổ sư thơ” của mình, trong một đêm viết xong bài tập Kiều cho số tạp chí ấy. Bài tập Kiều tuy đề là tặng Nguyễn Du mà sao như Nguyễn Bính đang tự tổng kết cuộc đời thơ “nhả ngọc phun châu” quá long đong lận đận của mình: “Trăm năm trong cõi người ta/Một thiên tuyệt bút gọi là để sau/Khen tài nhả ngọc phun châu/Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình//… Gẫm âu người ấy, báu này/Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào”. Sau  khi khép lại bài tập Kiều, một “riêng có tình ta” đầy tâm sự buồn về thân phận cay đắng của những thi tài, Nguyễn Bính đã dồn hết tâm sức vào “Bài thơ quê hương”,  bài thơ cuối cùng của mình, để bài thơ này như một khúc ca vui gửi lại quê hương đất nước…

2
Nói về Nguyễn Bính, nhiều người cho rằng nhà thơ được thuộc nhiều nhất của thơ Việt hiện đại hầu như đã kết thúc sự nghiệp thơ vĩ đại của mình từ trước cách mạng tháng Tám sau 7 tập thơ được xuất bản chỉ trong 6 năm 1936-1942 với hàng loạt tuyệt bút như Cô hái mơ, Những bóng người trên sân ga, Mưa xuân, Chân quê, Tương tư, Người hàng xóm, Lòng mẹ, Truyện cổ tích, Giăng sáng vườn chè, Cô lái đò, Hành phương Nam, Giời mưa ở Huế, Oan nghiệt, Xuân tha hương, Lỡ bước sang ngang…Không thể phủ nhận rằng không cần tính đến phần thơ sau 1945, Nguyễn Bính đã xứng đáng được coi là một đỉnh cao của thơ Việt, với việc tạo nên được cả một “cõi thơ” (GS Lê Đình Kỵ), độc đáo mang đậm hồn Việt, thể hiện khả năng kỳ diệu của tiếng Việt. Tuy vậy, chân dung thi tài Nguyễn Bính sẽ phiến diện nếu không có phần thơ tạm gọi là “vệ quốc và cách mạng” của ông. Cần nhớ rằng trong số gần 20 tập thơ đã công bố của Nguyễn Bính cho tới trước ngày ông mất, có tới 9 tập thơ Nguyễn Bính viết sau cách mạng tháng Tám: “Ông lão mài gươm” (Truyện thơ 1947), “Đồng Tháp Mười” (thơ 1955), “Trả ta về” (thơ 1955), “Gửi người vợ miền Nam” (Thơ 1955), “Trong bóng cờ bay” (Truyện thơ 1957), “Nước giếng thơi” (Thơ 1957), “Tiếng trống đêm xuân” (Truyện thơ 1958), “Tình nghĩa đôi ta” (Thơ 1960), “Đêm Sao Sáng” (Thơ 1962). Đó là chưa kể tới hai vở chèo “Cô Son” (1961), “Người lái đò sông Vỵ” (1964). Đây là những tập thơ thể hiện tinh thần yêu nước, trách nhiệm công dân của nhà thơ trước những thử thách sống còn của đất nước. Trong số này, có thể dễ dàng nhận thấy nhiều tác phẩm chỉ là những bài vè, diễn ca tuyên truyền cổ động nhưng cũng có không ít tác phẩm  bộc lộ những nét mới trong thi tài Nguyễn Bính, có sức sống vượt thời gian. Đó là những tác phẩm giúp Nguyễn Bính được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng dành cho các tác phẩm văn học nghệ thuật ra đời trong thời đại Hồ Chí Minh, có đóng góp to lớn cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng tổ quốc.

3
Có thể nói, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa đánh giá thật đúng giá trị của mảng thơ của Nguyễn Bính trong kháng chiến chống Pháp. Sau chuyến “hành phương Nam” đầu tiên đến Huế trong hai năm 1941-1942, Nguyễn Bính trở về Hà Nội và đến đầu năm 1943, ông lại làm chuyến “hành phương Nam” thứ hai. Lần này, không những vào tới Sài Gòn, Nguyễn Bính còn lặn lội về tận Rạch Giá, Hà Tiên chơi với Đông Hồ, Mộng Tuyết, Kiên Giang, tham gia Tổng khởi nghĩa 1945 tại mảnh đất cực Nam đất nước, rồi lấy vợ sinh con và trở thành một nhà thơ toàn tâm toàn ý của Nam Bộ kháng chiến. Trong hàng trăm bài thơ phụng sự kháng chiến của Nguyễn Bính, cần kể đến truyện thơ  “Ông lão mài gươm” đầy chất tráng ca kể chuyện một ông già theo kháng chiến bị Tây chọc mù đôi mắt vẫn đêm đêm mài gươm giúp bộ đội ta có vũ khí tốt diệt thù:: “Xóm Đông có một ông già. Đêm đêm ngồi dưới trăng ngà mài gươm”. Cũng không thể không nhắc đến bài thơ dài “Máu chảy trên đường phố” về cuộc biểu tình lịch sử của học sinh sinh viên Sài Gòn – Chợ Lớn ngày 19/1/1950 với những câu thơ ngùn ngụt yêu thương và căm hận:” Giữa Sài Gòn Chợ Lớn, giữa ban ngày/Đem tuổi thơ các em đi phá ngục/Dòng máu xuân xanh/Chói màu bất khuất/Đường phố chuyển mình/Thấm sâu lòng đất/Cả non sông rung chuyển khối căm thù”. Bên cạnh các bài thơ khá hay về tình cảm của quân dân Nam Bộ với Bác Hồ, về người mẹ chiến sĩ Nam Bộ hay bài thơ về tiểu đoàn 307  nổi tiếng đã được nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí phồ nhạc thành một ca khúc bất hủ, Nguyễn Bính có hai bài thơ cần được xếp ngang với những “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi, “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm, “Nhớ máu” của Trần Mai Ninh, “Đèo Cả” của Hữu Loan, “Bài ca vỡ đất” của Hoàng Trung Thông, “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” của Tố Hữu, những bài thơ được coi là những đỉnh cao của thơ ca Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp. Đó là “Đồng Tháp Mười” và “Những người của ngày mai”. Với “Đồng Tháp Mười”, cho tới bây giờ, vẫn là bài thơ hay nhất về vùng đất đặc biệt này của Nam Bộ trong thơ ca Việt Nam, với những câu thơ vừa hào sảng vừa đằm thắm: “Bưng sình hỗn loạn/Kênh rạch ngổn ngang/Muỗi mòng đỉa vắt/Nước đọng bùn lầy/Người dân quyết sống/Quản gì đắng cay/Tuần mưa cữ nắng đổi thay/Vườn đơm trái ngọt, ruộng đầy lúa thơm/Hình thôn dáng xóm thương thương/Hoa ô môi nở bốn phương anh đào”. Còn “Những người của ngày mai” là bài thơ viết về những lãnh tụ kháng chiến trong bưng biền Nam Bộ, những người “Ở chòi hẹp nhưng hồn chìm vũ trụ/Trái tim đau vì thương xót loài người”,, những người “Họ là đất, họ vui lòng làm đất/Để đắp xây nền độc lập lâu dài/Họ là ai? Là người của ngày mai!”. Bài thơ khá hiện đại, xúc tích, cảm hứng sử thi hòa quyện trong cảm hứng đời thường, rất mềm mại mà đầy trí tuệ.

4.
Năm 1955, sau chuyến “hành phương Nam” lần thứ hai kéo dài tới 12 năm, Nguyễn Bính gạt nước mắt chia tay bà mẹ già, người vợ trẻ và đứa con thơ ở xứ dừa Bến Tre để trở về miền Bắc với tư cách một cán bộ miền Nam tập kết. Như các nhà thơ khác, thơ ông từ đây có hai đề tài chính: đấu tranh thống nhất đất nước và ca ngợi công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Ở mảng đề tài đấu tranh thống nhất đất nước, Nguyễn Bính có những đóng góp  lớn, để lại những dấu ấn sâu đậm. Ngay trong năm 1955, Nguyễn Bính đã có bài thơ “Gửi người vợ miền Nam” làm xúc động hàng triệu người đọc. Không ít độc giả, nhất là các cán bộ miền Nam tập kết đã thuộc lòng bài thơ song thất lục bát rất dài này. Nguyễn Bính đã đem đến cho thể thơ truyền thống tưởng không còn chỗ đứng trong thơ ca hiện đại một sức sống mới bằng những kỷ niệm chân thật, trong trẻo, nỗi nhớ thương da diết và một khát vọng đoàn viên mãnh liệt. Đây là những hình ảnh khó quên về người vợ, người mẹ miền Nam “Đường công tác thuyền anh ghé bến/Anh ngập ngừng em thẹn quay đi/Mẹ cười mẹ chẳng nói chi/Đã người kháng chiến mẹ thì cho không/…Vách lá mới tươi cờ tổ quốc/Xuồng hành quân mát nước sông xa/Mẹ ngồi thức mấy canh gà/Gói thêm bánh tét gửi ra chiến trường”. Còn đây là giấc mơ thường trực của nhiều người Việt Nam trong những năm tháng chia cắt đau thương ấy: “Anh sẽ đón gia đình ra Bắc/Vợ chồng mình dạo khắp thủ đô/Con ta được gặp Bác Hồ/Mẹ ta được vãn cảnh chùa Ngọc Sơn/Xe lửa ghé nông trường Phú Thọ/Tàu thủy thăm vùng mỏ Quảng Yên/Tám thơm cũng thể nàng tiên/Sen Tây Hồ ngát như sen Tháp Mười”. Trong đề tài đấu tranh thống nhất, Nguyễn Bính có hai bài thơ đáng được xếp vào hàng những tuyệt bút của ông là “Đêm sao sáng”“Xuân nhớ”. Bài thơ “Đêm sao sáng” thì nhiều người đã biết, còn đây là những câu thơ đứt ruột trong bài “Xuân nhớ”: “Câu thơ đứt giữa lòng trang giấy/Mắt rượu mờ trông mái tóc thề/Đất Bắc phải đâu là đất khách/Sao lòng mãi nặng mối tình quê?/Ngày muộn, mẹ già hong tóc trắng/Khác nào mây núi đỉnh Trường Sơn/Mẹ ơi giữ lấy vườn mai nhé/Cho trải vàng xuân đẹp bước con”.

5.
Ở mảng đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội, cho tới cuối năm 1965, ở khía cạnh ca ngợi trực tiếp, Nguyễn Bính dù viết không ít, nhưng hầu hết chỉ là thơ tuyên truyền cổ động. Ở đây, thơ Nguyễn Bính chỉ hay khi nói về những tỉnh ngộ sau những ấu trĩ về chủ nghĩa xã hội khi nhầm tưởng “Tất cả là ánh sáng/Tất cả là hoa hồng/…Những cái oan Thị Kinh/Những cái dại Xúy Vân/Chỉ còn trên sân khấu” (Thơ gửi Trần Huyền Trân). Có lẽ, Nguyễn Bính là một trong những người đề cập sớm nhất trong thơ những tỉnh ngộ cần thiết này. Điều đáng trân trọng ở nhà thơ từng phải chịu nhiều cay đắng trong tình cảnh “sông ngang núi trái bất thường” , với “những cái dại Xúy Vân” , “những cái oan Thị Kính”, là sau tất cả những điều đó, Nguyễn Bính vẫn giữ được những yêu tin chân thiện “Ta vẫn là nghệ sĩ/Ta vẫn là nhà thơ/Nghệ thuật vẫn chung thủy/Không chết yểu bao giờ”(Thơ gửi Trần Huyền Trân). Nhờ vậy, nhà thơ dễ dàng vượt qua những khổ nạn thân phận, những uất hận riêng tư để thấy  “Đất nước qua bao trận mất còn/Vàng son vẫn vẹn giá vàng son” (Trở về quê cũ). Hiểu điều này, chúng ta sẽ hiểu vì sao “Bài thơ quê hương”, bài thơ cuối cùng Nguyễn Bính, một “tụng ca” về quê hương đất nước, lại như là một “giao hưởng của niềm vui”. Mượn cách trò chuyện với bạn bè thế giới, Nguyễn Bính lại có dịp say sưa nói về quê hương đất nước mình nhưng không phải trong buồn tủi mà với niềm vui “Đầu ngẩng cao từ cách mạng mùa thu”. Có cảm giác như Nguyễn Bính như muốn nói cho thật hết, thật đủ những niềm vui, những tự hào ông chưa kịp nói khi cảm nhận trên quê hương đất nước, những vẻ đẹp cũ đã tìm lại được “chân giá trị”, những vẻ đẹp mới đang hình thành: “Và lớp lớp những anh hùng xuất hiện/Sức thanh niên: sức Phù Đổng là đây/Đẩy biển lùi ra, ngăn sông đứng lại/Khẩu súng trường cũng hạ nổi máy bay”.

Bây giờ đọc lại “Bài thơ quê hương”, chúng ta có thể trách tác giả có vẻ tô hồng, thậm chỉ viển vông khi gặp không ít những câu như “Đời trước thường mơ chuyện tiên, chuyện Phật/Truyện thiên đường trong những cõi hư vô/Đời nay dựng thiên đường trên mặt đất/Dựng mùa xuân trong tất cả bốn mùa”. Nhưng trong những năm 60 của thế kỷ trước, đây là ước mơ, hy vọng rất thật của đại đa số người Việt Nam khi một lòng đi theo Đảng, Bác Hồ trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất hai miền, đây cũng là niềm tin của Nguyễn Bính. Chúng ta đều biết, cho đến ngày từ giã cuộc đời, Nguyễn Bính luôn là một con người tự do, một nhà thơ tự do, tuyệt đối tự do, không ai có thể ép buột ông viết những gì trái với lương tâm, dù đó là cơm áo hay cường quyền. Từ kinh nghiệm của bản thân, Nguyễn Bính thừa biết những gì ông viết về cuộc đời mới trong bài thơ cuối cùng này mới chỉ là “một nửa của sự thật”, mới chỉ là ước mơ hy vọng nhưng cần phải nuôi ước mơ hy vọng đó như một nguồn sức mạnh to lớn giúp đất nước chiến thắng trong cuộc chiến đấu vì độc lập tự do, thống nhất thiêng liêng. Khi Nguyễn Bính kết thúc bài thơ bằng khổ thơ nôm na: “Khi có Đảng, có Bác Hồ lãnh đạo/Có truyền thống cha ông để lại tự bao đời/Thì đánh Mỹ nhất định là phải thắng/Chuyện ấy, quê tôi, thành chuyện dĩ nhiên rồi” giữa những trận bom của không quân Mỹ đang bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại điên cuồng trên miền Bắc thì ta hiểu ông muốn nhắn lại những người đang sống niềm tin sắt đá này. Nguyễn Bính đã đúng, chúng ta đã thắng Mỹ, đất nước đã độc lập tự do, hòa bình, thống nhất. Nhưng cũng phải nói, còn rất nhiều tin tưởng, hy vọng khác mà nhà thơ vĩ đại của dân tộc trao gửi trong bài thơ cuối cùng, cho đến nay, sau gần nửa thế kỷ ông vĩnh biệt chúng ta, vẫn chưa thực hiện được.

Những đấy không phải là lỗi của Nguyễn Bính!

 

Bài thơ quê hương

Nguyễn Bính

Trải nghìn dặm trời mây bạn tới
Thăm quê tôi, tôi rất đỗi vui mừng
Bạn nán lại cùng tôi thêm buổi nữa
Để tôi xin kể nốt chuyện quê hương

Quê hương tôi có cây bầu cây nhị
Tiếng đàn kêu tích tịch tình tang…
Có cô Tấm náu mình trong quả thị
Có người em may túi đúng ba gang

Quê hương tôi có ca dao tục ngữ
Ông trăng tròn thường xuống mọi nhà chơi
Một đĩa muối cũng mặn tình chồng vợ
Một dây trầu cũng nhắc chuyện lứa đôi

Con chim nhỏ cũng đau hồn nước mất
“Cuốc cuốc” kêu rỏ máu những đêm vàng
Chân ngựa đá cũng dính bùn trận mạc
Theo người đi cứu nước chống xâm lăng

Quê hương tôi có bà Trưng, bà Triệu
Cưỡi đầu voi, dấy nghĩa, trả thù chung
Ông Lê Lợi đã trường kỳ kháng chiến,
Hưng Đạo vương đã mở hội Diên Hồng

Quê hương tôi có múa xoè, hát đúm
Có hội xuân liên tiếp những đêm chèo
Có Nguyền Trãi, có “Bình Ngô đại cáo”
Có Nguyễn Du và có một “Truyện Kiều”

Quê hương tôi có Trường Sơn một dải
Có Hồng Hà lại có Cửu Long Giang
Có Hà Nội có hồ Tây, hồ Kiếm
Chợ Đồng Xuân bày đủ mặt hàng

Quê hương tôi có sầu riêng, măng cụt
Lòng bưởi đào, lòng gấc đỏ như son
Có gạo tám xoan thổi nồi đồng điếu
Cam xã Đoài ai bóc cũng thơm ngon

Cánh đồng nào cũng chôn vàng giấu bạc
Bờ biển nào cũng chói ngọc ngời châu
Có thanh quế ngửi qua là khỏi bệnh
Có cây lim đóng cả một thân tầu

Quê hương tôi có những người con gái
“Một ngày hai bữa cơm đèn…”
Cách sông cái cũng bắc cầu dải yếm
Cho chàng sang đính ước chuyện nhân duyên

Trong bụng mẹ đã từng mê tiếng hát
Nên quê tôi ai cũng biết làm thơ
Những trẻ nhỏ nằm nôi hay đặt võng
Sớm hay chiều, đều mượn cánh cò đưa

Khi có giặc những tre làng khắp nước
Đều xả thân làm ngọn mác, mũi chông
Những trai gái thôn Đông, xóm Bắc
Thoắt vươn vai thành những anh hùng…

Quê tôi đó, bạn ơi! là thế đó.
Mà nghìn năm rặt những tiếng kêu thương
Sung sướng làm sao! Bỗng một ngày: có Đảng
Có Bác Hồ, làm sống lại quê hương.

Đánh Nhật, đuổi Tây cứu dân, dựng nước
Hai mươi năm kể biết mấy công trình
Và từ đây, núi sông và cuộc sống.
Và quê hương mới thực sự của minh.

Cuộc đời mới con người cũng mới
Khắp bốn phương lộng lẫy ánh sao cờ,
“Đoàn quân Việt Nam đi… chung lòng cứu quốc…”
Đầu ngẩng cao từ cách mạng mùa thu

Những xiềng xích nghìn năm đều bẻ gãy.
Những bài ca điệu múa lại vui tươi.
Những trận khóc đêm dài không có nữa
Thành thị nông thôn rộn rã tiếng cười

Trong luỹ tre xanh vui mùa hợp tác
Mái ngói nhô lên như những nụ hoa hồng
Chung ruộng, chung trâu, chung lòng, chung sức
Chung con đường gặt lấy ấm no chung

Trong xưởng máy tưng bừng như đám hội
Những chủ nhân là chính những công nhân
Tiếng máy reo chen tiếng cười tiếng hát
Chẳng còn đâu tiếng chủ thét, cai gầm

Những nhà thơ được tự do ca ngợi
Quê hương. Tổ quốc, con người…
Và đời sống khỏi túng, nghèo, đói, khổ
Khỏi bị ai khinh rẻ, dập vùi

Đời trước thường mơ chuyện tiên, chuyện Phật,
Truyện thiên đường trong những cõi hư vô
Đời nay dựng thiên đường trên mặt đất
Dựng mùa xuân trong tất cả bốn mùa

Khi con người được tự do giải phóng
Đất rộng hơn mà trời cũng xanh hơn
Quả trên cành cũng thêm ngon, thêm ngọt
Hoa trong vườn cũng thêm sắc, thêm hương

Và ý nghĩa những ca dao, tục ngữ
Ngày càng thêm thắm thiết, ngọt ngào.
Và “Truyện Kiều” mới có chân giá trị
Và Nguyễn Du mới thành đại thi hào

Thửa ruộng cũ cấy thêm mùa lúa mới
Khung trời quê mọc những nóc lò cao
Dây cao thế đã chăng dài khắp nẻo
(Xóm làng tôi điện sẽ át trăng sao)

Những gỗ tốt đã dựng câu lạc bộ
Gạo tám xoan thơm bếp lửa nhân dân
Những cô Tấm tự tay xây hạnh phúc
Chẳng phải gian nan hoá kiếp mấy lần

Và lớp lớp những anh hùng xuất hiện.
Sức thanh niên: sức Phù Đổng là đây
Đẩy biển lùi ra, ngăn sông đứng lại
Khẩu súng trường cũng hạ nổi máy bay.

Hội Diên Hồng thôn xã nào cũng mở,
Chuyện “kháng chiến trường kỳ” ai cũng nhớ nhập tâm
“Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”
Câu ấy giờ đây đã đúng cả trăm phần

Đảng cùng dân đã viết thêm lịch sử,
Lửa Điện Biên sáng dậy cả trăm năm
Lửa Ấp Bắc, Chu Lai cũng bừng rực rỡ
Lửa chiến công đang chói lọi miền Nam

Khi có Đảng, có Bác Hồ lãnh đạo
Có truyền thống cha ông để lại tự bao đời
Thì đánh Mỹ nhất định là phải thắng
Chuyện ấy, quê tôi, thành chuyện dĩ nhiên rồi

Câu chuyện quê tôi, sơ sài mấy nét
Bạn trở về xin kể mọi người hay
Riêng phần tôi có thơ này tặng bạn
Tặng quê mình, nhân dịp tết năm nay

Tết Bính Ngọ, 1966

RELATED ARTICLES

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

KHI XÃ HỘI XUỐNG CẤP, NHÀ THƠ – NGƯỜI Ở ĐÂU?

NGUYỄN TRỌNG TẠO (Nguyễn Đức Tùng thực hiện) Nguyễn Đức Tùng: Rất vui được trò chuyện với anh Nguyễn Trọng Tạo, chàng thi sĩ lãng mạn...

Mà đời vẫn say, mà hồn vẫn gió…

NGUYỄN VIỆT CHIỄN Ngày ấy mà Tạo đã thân với Hoàng Cầm, Văn Cao làm tôi choáng, tôi bái phục. Đi chơi với Tạo, tức...

1 COMMENT

  1. “Chúng ta đều biết, cho đến ngày từ giã cuộc đời, Nguyễn Bính luôn là một con người tự do, một nhà thơ tự do”.
    Vì quá tự do nên bị chúng cho chết đói trên cõi “thiên đường của các con tôi”.
    Bây giờ tặng giải thưởg HCM là …
    Bác ThếKhoa ơi, Xin để ông yên nghỉ.
    Nam.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -

Most Popular

SINH NHẬT MÙA THU

NGUYỄN TRỌNG TẠO SINH NHẬT MÙA THU Tặng Em Ai giấu trong màu thu Bông cúc xanh tháng bảy Nhìn cánh hoa anh thấy Thu về cùng gió xanh Ai giấu...

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

BỐ VÀ CON

NGUYỄN TRỌNG TẠO Tặng con và bố Tú Con gọi nồng nàn tiếng bố Bố cưng gái rượu yêu kiều  Rồi con thành bà nội ngoại Bố mãi gọi...

KHI XÃ HỘI XUỐNG CẤP, NHÀ THƠ – NGƯỜI Ở ĐÂU?

NGUYỄN TRỌNG TẠO (Nguyễn Đức Tùng thực hiện) Nguyễn Đức Tùng: Rất vui được trò chuyện với anh Nguyễn Trọng Tạo, chàng thi sĩ lãng mạn...

Recent Comments

loctran on THỜI MẠT
Đào Nguyên Lan on THƠ NGUYỄN NGỌC VƯỢNG
tamnguyenxuan55gmail.com on 3 TẢN VĂN CỦA ĐẬU THỊ THƯƠNG
Vương on ĐẤT NƯỚC TÔI
Nguyễn Hoàng Sơn on NHÀ THƠ NGUYỄN DUY VỀ LÀNG
tu sinh on BA THẰNG BẠN
Nguyễn Thanh Cừ on TỔNG THỐNG
Trần Anh Dũng on THƠ ĐẶNG LƯU SAN
Nguyễn Ngọc Phong on “SUY NGẪM” CỦA LÊ THANH DŨNG
Hoàng Trí on NGỤM CHÁO LÚ
Trâu Hà Tĩnh on BA CÂU HỎI CHO HOÀNG HƯNG
sonnghithu@gmail.com on NGƯỜI VỀ TRƯỜNG SA
phamducquy on THƠ VÕ THANH AN
trần vũ long on THƠ VÕ THANH AN
Nguyễn Trường Sơn on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
TRẦN NHUỆ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Nguyễn Thanh Cừ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Lê Kinh Thắng - Tham tán Thương mại tại Nam Phi on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Lê Anh Phong - TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Nguyễn Thị Bích Lài - Đồng hương của hai người hiện ở TP. Pleiku - tỉnh Gialai – Pleiku. on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Phạm Đông on VĂN TẾ CÂY HÀ NỘI
Nguyễn Thanh Cừ on ĐỐI THOẠI VỚI LÝ QUANG DIỆU
Nguyễn Thanh Cừ on XIN ĐỪNG ĐỤNG VÀO CÂY…
Người lái đò on ĐANG SỐNG MÀ ĐÃ BẢO TÀNG…
Phan Thai Duc Hieu on THÂN PHỤ TÔI
THUYTANTHUYTRUONG on TUYẾT NGA
jamesnguyen on CON TUYẾT
jamesnguyen on KIẾP HÀI NHI
Khanh nguyen on NẾU NHƯ KHÔNG… NẾU
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Pham Tien Cat on NGUYỄN HOA VÀ THƠ
Anh Nguyên on CÁI ĐINH ỐC
Nguyễn Thanh Cừ (Hà Nội) on NGUYỄN TRỌNG TẠO HAY ÔNG “ĐỦ MÓN, 5 SAY”
phạm Dũng on SUY NGHĨ VỀ HÒA HỢP
Nguyễn Thị Long on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
nguyễn thị thanh minh on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on VĨNH BIỆT NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG SÁNG
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on KHÚC HÁT SÔNG QUÊ – BÀI CA CỦA MỌI NGƯỜI
Lâm Bích Thủy on THƠ VALENTINE 2014
Anh Nguyên on THƠ VALENTINE 2014
Pham Tuấn Thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguyễn Tiến Dũng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Phạm Trường Thi on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phạm tuấn thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguoi mien nui on QUYẾT LIỆT LÀ… TAN VỠ
Nguyễn Mộng Nhưng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phó thường dân on NGUY CƠ TỪ TRUNG QUỐC
thời đại khoa học on GẶP TƯỚNG GIÁP VÀ NGẪM VỀ NGƯỜI
Nỗi buồn hoa phượng on TRUYỆN CỰC NGẮN: BIẾU SÁCH
Gloomy 1721979 on KINH SÁCH CỦA NƯỚC VỆ
Dân gian: "Nhà văn nói láo, nhà báo nói phét" on NƯỚC ICELAND KÍNH TRỌNG NHẤT NGHỀ VIẾT VĂN
Hoạ sĩ Trần Thị Bích Huệ on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Huỳnh Văn Úc on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Van Duc on HOA MẠC TRẮNG
nguyễncamgiang@yahoo.com.vn on NHỮNG CÁI CHẾT TỨC TƯỞI CỦA NHÀ VĂN
Danh Hiếu on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Nhan Van on HỒI KÝ CA SĨ
Bà Ngoại on HỒI KÝ CA SĨ
Văn Nhân. on HỒI KÝ CA SĨ
Dungquy on HỒI KÝ CA SĨ
Người nhà quê on SUY NGẪM CỦA LÊ THANH DŨNG
nguyenvan on TÔI YÊU VIỆT NAM
Thanh Minh on TÔI YÊU VIỆT NAM
Hoàng Lãng Thụy on INRASARA BÌNH BÀI THƠ “CHIA”
Đỗ Cảnh Thìn on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
ANH NGUYỄN on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Nguyễn thanh Hà on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Thanh nien nghiem tuc on ĐẶNG HUY VĂN DẶN PHƯƠNG UYÊN
Hà quang Minh on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Trọng Hoàng on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Văn Nhân. on HỌC LÀM QUAN
vũ thảo on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on HỌC LÀM QUAN
Nguoi lam thue on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
nguyenvan on HỌC LÀM QUAN
GÀ QUÊ on HỌC LÀM QUAN
montaukmosquito on HỌC LÀM QUAN
Phạm Lưu Vũ on KHÔNG ĐỀ 72
Hạnh Nhung on KHÔNG ĐỀ 72
dinhqn on KHÔNG ĐỀ 72
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Khánh Minh on KHÔNG ĐỀ 72
Nhị Mai on KHÔNG ĐỀ 72
Bá Tiến on TUYẾT NGA
Thanh Minh on TUYẾT NGA
HOÀNG TRƯỜNG SA on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Gloomy 1721979 on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Thập tứ đại ngu. on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
mai thanh sơn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Hồ Muôn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
ANH NGUYỄN on LƯU MANH KẺ CHỢ
ANH NGUYỄN on CHÙM THƠ BIỂN
Thanh Minh on LƯU MANH KẺ CHỢ
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Vũ Xuân Tửu on LƯU MANH KẺ CHỢ
luong thien on LƯU MANH KẺ CHỢ
nguyenvan on LƯU MANH KẺ CHỢ
Phan Thế Thủy on LƯU MANH KẺ CHỢ
T. A. T on THÂN PHỤ TÔI
Lê văn Minh on THÂN PHỤ TÔI
Tô Lê Sơn on THÂN PHỤ TÔI
ANH NGUYỄN on SẮC DỤC
Đỗ Duy Văn on THÂN PHỤ TÔI
Lưu Đinh Anh on SẮC DỤC
hao hao on THÂN PHỤ TÔI
nguyenvan on 23 TẦNG NGƯỜI
Văn Trường Lưu on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Hoàng Văn Hoan on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Trần Thị Bích Huệ on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
nguyen van lung on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Ngô Văn Hải on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Phan Huy Vũ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Trần Thị Bích Huệ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Nguyễn Hữu Đức on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
Nguyễn Thị Chinh on VĂN CAO: TRƯƠNG CHI LÀ TÔI ĐẤY
Nguyen Van Nam on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
Thanh Minh on GIA PHONG XỨ NGHỆ
NGUYỄN VĂN ĐOÀN on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
LÒ LÃO NÔNG/NGUYỄN ĐỨC TOAN on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
(Vẫn là) Cháu ngoan Bác Hồ. on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
nguyễn văn Đức on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người nhà quê on GIA PHONG XỨ NGHỆ
Nguyễn Đắc Vinh on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Ngọc Rô on CÒN ĐÂU SÔNG NHUỆ NGÀY XƯA
Giời Ơi on GIA PHONG XỨ NGHỆ
T Nguyen on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Ha Dinh Van on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Muathuhanoi on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Người VN Yêu Nước on CỦA CE’SAR XIN TRẢ LẠI CHO CE’SAR
nguyenvan on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Nguyên on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Ông Đồ xứ Nghệ on HOÀNG SA LÀ ĐÂU HỞ NGOẠI?
Bác Hồ sống mãi trong sự cay đắng cùa chúng ta! on SỰ NHẦM LẪN LỜI CA “GỬI NGƯỜI EM GÁI MIỀN NAM”
mai ngoc on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Trịnh Công Tiến on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Khách qua đường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đỗ Duy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hà Văn Thịnh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Tăng Bá Hùng on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
trần cường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
phạm văn Lâm on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Hoàng on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hoàng Thiên Thanh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Gia đình Liệt sĩ chống Pháp, chống Mỹ on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
thiên đường XHCN on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Gia Linh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Trường Sơn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Văn An on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Nguyễn Văn An on MINH VƯƠNG
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
ANH NGUYỄN on THƠ XƯA CHƯA CŨ
Biết Tuốt on CHÂN DUNG PHÁC THẢO
Thanh Minh on TUYỆT THỰC
Công Trình on TRƯỜNG SA LÀNG TA
ĐoànhĐoành@ on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
Anh Hoa on TUYỆT THỰC
tù nhân lương tâm on TUYỆT THỰC
mai ngoc on TRƯỜNG SA LÀNG TA
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
kieuhung on TUYỆT THỰC
buncuoiwa on TUYỆT THỰC
Bà Ngoại on PHẠM DUY VÀ TỐ HỮU
Nguyễn Trường Sơn on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Khúc hát sông quê on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Cùng là người HN on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Văn Đức on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
Hoàng Xuân Thảo on THƠ CHO THIẾU NHI: CHÂN VÀ CÁNH
Hoàng Xuân Thảo on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
ĐoànhĐoành@ on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Trần Thường Kiệt on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Trần Thường Kiệt on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Cai nuoc minh no the on LỄ TANG ÔNG HỒ ĐỨC VIỆT
Công Luận on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Phạm Lưu Vũ on LIÊN HOAN THƠ TẠI PHÁP
Hoàng Khải on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
truclamthientruongy on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Móng Rồng on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trần Dân Đen on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trương Duy Nhì on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Hiên ngang, sáng ngời.... on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Triời mô xanh bằng trời Can Lộc on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Phạm Hồng Thái on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Người VN Yêu Nước on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Hồn Ma Võ Văn Kiệt on NGUYỄN KHOA ĐIỀM: SỰ TẦM THƯỜNG
HTvinh on SẮC DỤC
hát xẩm xứ nghệ on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on THƠ LÊ TUẤN LỘC
Nhân Văn Giai Phẩm on NGƯỜI MÊ VĂN HỌC BA LAN
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
D.Nhật Lệ on TÀI – TAI
3 Dê (tên tục Nguyễn Mười-Tạ Dũng, huý tự Nguyễn Chí Dũng) on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
park gil oung on ÁO LỤA VÀ HOA SEN
Người sông Tiền on VĨNH BIỆT NGƯỜI VỀ SÔNG TƯƠNG
Dương Diệu Minh on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
Phương Xa Ty on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
hát xẩm xứ nghệ on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Văn Đức on HUYỀN BÍ VÂN KIỀU
Lương Dũng Hà on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC THƠ LÊ THÁI SƠN
xuân thơm on TẠI SAO VIỆT NAM?
Tran Kim Phuong on CHUYỆN TẮM TIÊN
Văn Đức on DỊU DÀNG
Bà thành on CHUYỆN TẮM TIÊN
Khách qua đường on GẶP GỠ THÁNG TƯ
mai ngoc on C’EST LA VIE! (*)
Nguyễn Hữu Cường on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
PHƯƠNG NAM on 4 PHÚT TUYỆT VỜI
Bất công on C’EST LA VIE! (*)
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
nguyễn xuân on THƠ BÙI MAI HẠNH
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
Vinh on BÁC SĨ THÚ Y
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hát xẩm xứ nghệ on THƠ MỚI CỦA LÊ HUY MẬU
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
Vũ Đức Thắng on NGUYỄN PHAN HÁCH VÀ TÔI
nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hội những người ko được giải là đây on CHÙM THƠ PHẠM ĐƯƠNG
V. Đ. on NGẪU HỨNG
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
ChâuDiên on CỬA LÒ QUÊ CHA
Văn Đức on CỬA LÒ QUÊ CHA
phạm hữu đăng đạt on THẾ HỆ TÔI, MỘT THẾ HỆ CÚI ĐẦU
VIỆT HƯNG on CỬA LÒ QUÊ CHA
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
Biển Đen on THỦ PHẠM
Tiến Hùng on THỦ PHẠM
Người VN Yêu Nước on THỦ PHẠM
Dinh Trung on THỦ PHẠM
Phạm Lưu Vũ on THỦ PHẠM
c on NHÂN DÂN
Văn Đức on CHIẾN TRANH
lanh thu on CHIẾN TRANH
vu vơ on CHIẾN TRANH
Lâm Tú on CHIẾN TRANH
Điện Hải 1858 on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Nguyễn Anh Hùng on CHIẾN TRANH
Thái Doãn Táo on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Bùi Thạch Hãn Cựu chiên binh on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Nguyễn Đức Giang on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
mayhong hồ tây hà nội on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
FAn của Boi on BẠC MỆNH MỘT TÀI HOA!
Nguyễn Xuân Lai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
nhà thơ Nguyễn Thị Mai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Ước mơ dân chủ công bằng on NGHĨ VỀ TRẢ LỜI VTV CỦA ÔNG NGUYỄN ĐÌNH LỘC
Cu Lon on THƠ MẠC MẠC
VIỆT HƯNG on NGÔN NGỮ MỚI
Bich Khe on NGÔN NGỮ MỚI
Nguyễn Xuân Lai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC LÀ NIỀM LẠC THÚ
Bà thành on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Vĩ Trung Ngân on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Đảng ta vĩ đại thật on MỘT BÀI HỌC TỪ PHẠM QUỲNH
108 anh hùng lương sơn bạc on BA SÀM ƠI, NGƯƠI Ở ĐÂU?
108 anh hùng lương sơn bạc on BLOG BA SÀM LẠI BỊ CƯỚP VÀ BỊ XUYÊN TẠC
Nguyễn Đức Tùng on DU TỬ LÊ GIỚI THIỆU TRỊNH SƠN
Phương Xa Ty on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Nguyễn Trường Sơn on CÔNG AN KHÔNG ĐỨNG TRÊN LUẬT
<