Thứ Sáu, Tháng Sáu 18, 2021
Home Bài của bạn NGUYỄN TRỌNG TẠO NEO HỒN THƠ VÀO "BIỂN MẶN"

NGUYỄN TRỌNG TẠO NEO HỒN THƠ VÀO “BIỂN MẶN”

VŨ NHO

Chúng ta đã có nhiều, rất nhiều các tác phẩm văn xuôi, thơ và trường ca viết về chiến tranh. Nhưng đề tài chiến tranh vẫn không bao giờ cũ. Trường ca “Biển mặn” của Nguyễn Trọng Tạo vừa xuất bản, như đang làm nóng lên đề tài này. BiaBienMan2

Mấy câu thơ trong bài thơ “Những người lính đi qua thành phố” được lồng vào trường ca này có lẽ giúp chúng ta hiểu vì sao Nguyễn Trọng Tạo viết trường ca “Biển mặn”:

Người lính đi, qua mấy cuộc chiến tranh
Nói về súng dẫu nhiều – chưa nhàm cũ
Nói mất mát, hi sinh dẫu cạn lời – chưa đủ

Khi đọc tập trường ca “Biển mặn”, tự nhiên tôi có ý so sánh với trường ca “Biển” của Hữu Thỉnh. Hai người từng là lính. Hai người cùng viết về biển. Trường ca của Hữu Thỉnh viết 1981, hoàn thành năm 1994. Còn trường ca của Nguyễn Trọng Tạo, theo anh cho biết thì đã ấp ủ từ lâu nhưng đến giữa năm 2015, anh mới khởi bút và hoàn thành sau hơn một tháng dồn cả tâm hồn và trí tuệ cho cả nghìn câu thơ về biển. Nghĩa là trường ca “Biển mặn” được viết khi vấn đề biển đảo của ta, vấn đề biển Đông đang dậy sóng. So sánh thì thấy: Hai nhà thơ, hai cách tiếp cận biển. Và dù viết sau, nhưng Nguyễn Trọng Tạo đã có một cách riêng để triển khai trường ca của mình. Chúng ta sẽ thấy đó là một cách triển khai thông minh, độc đáo và sáng tạo.

Trường ca “Biển mặn” của Nguyễn Trọng Tạo gồm 5 chương và phần Vĩ thanh: Mặn hơn muối; Những cột mốc sống; Lính biển; Hải chiến; Đảo bão;Vĩ thanh.

Bản trường ca này có chủ đề khái quát “mặn hơn muối” để nói về “Biển mặn”. Trên trục hoành không gian, biển trải từ Móng Cái đến Hà Tiên, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các đảo khác. Đồng thời trên trục tung lịch sử, tác giả triển khai “Những cột mốc sống” từ thời xưa đến bây giờ. Cột mốc chủ quyền quốc gia trên đất liền là những cột xi măng cốt thép, có tọa độ rõ ràng. Còn trên biển cả, chúng ta đã có những “cột mốc sống” khẳng định chủ quyền ở Trường Sa và ở Hoàng Sa.

Bốn thế kỷ đi qua cột mốc giữa trùng dương
Những Hải đội Hoàng Sa nhập hồn vào sóng nước
Nhập vào đá san hô
Nhập vào Tổ quốc

Vẫn còn đến hôm nay tục tế lễ sân đình
Tế lễ khao quân
Tế sống lính lên đường
Những hình nộm chết thay cho người lính
Cầu an bình cho mọi chuyến hành hương.

Về lịch sử nối tiếp các thế hệ, trong chương “Lính biển”, tác giả đã viết về người lính hôm nay, con trai của người lính năm xưa trong bài thơ “Những người lính đi qua thành phố”. Thật khái quát và cô đọng:

Cha đã lính. Bây giờ con lại lính
Những thế hệ nối nhau đi giữ nước non nhà
Xưa cha Trường Sơn Rừng
Nay con Trường Sơn Biển
Những hòn đảo dựng vòng cung phòng tuyến
Dựng tin yêu từ phía mặt trời lên,

Tiếp nối lịch sử “Hải đội Hoàng Sa” từ thời nhà Nguyễn, tác giả dựng lên chương “Hải chiến” rất cụ thể, rất “thời sự”. Ở đây không có lối nói bóng gió nào hết. Đánh nhau với bọn cướp biển không phải chung chung như vẫn nghe là “tàu lạ”:

Bọn cướp biển là ai? Tôi đã nhìn rõ mặt
Chúng lén lút
Chúng ngang nhiên
Chúng hằm hằm
Chúng sằng sặc
Chúng ngụy trang áo mặc
Chúng trá hình dân đen
Chúng giả bạn, giả anh em
Giả tình, giả nghĩa

… Tanh tưởi ngoại ngữ quen
Nghìn năm nhai xác….

… Rồi một ngày họ thành quân xâm lược…

Một sự thật mà dân Việt và cả thế giới đều biết. Đó chính là đội quân bành trướng Bắc Kinh xâm lược, họ đã đơn phương gây ra cuộc chiến tranh dọc biên giới phía Bắc nước ta tháng 2 năm 1979. Họ cũng nhân danh “giúp bạn” mà quyết “Đánh trận này chiếm quần đảo Hoàng Sa”. Và cuộc hải chiến Hoàng Sa tháng 1 năm 1974 đã nổ ra không cân sức:

Tín hiệu hòa bình phát đi không thể nào xua đuổi
Những chiến hạm xâm lăng.
… Lửa đã cháy
Và biển xanh dâng sóng…

Có thể nói, toàn bộ bản trường ca, đặc biệt hai chương II và IV đã thể hiện rõ tính chất bi tráng của cuộc chiến khẳng định chủ quyền và tinh thần vệ quốc của chúng ta trên biển. Lòng yêu nước như sóng biển uất nghẹn trào dâng:

– Tôi nghe sóng Hoàng Sa uất ức
Gầm vang
Tôi nghe hồn Hoàng Sa nghiêng bóng thuyền che chở
Các bạn thuyền xúm vào nhau trên con thuyền rách nát
Tiếng rên thành bản nhạc chiêu hồn

– Những con tàu HQ không tiến được
Phải rút lui dưới hỏa lực quân thù
Tàu Nhật Tảo chìm dần trong lửa khói
Biển ôm vào lòng nức nở tiếng sóng ru…

Chương “Đảo bão” là chương khắc họa thêm phẩm chất của người lính biển Việt Nam. Thật thú vị là trong khi nhà thơ đồng đội Hữu Thỉnh viết về cơn bão giật người lính ra khỏi đảo, về sự kiên cường của một người lính bơi trên chiếc phao thoi thóp, quyết trở về đảo, cùng đồng đội xốc lại đội hình: “Tiếng lính gọi mịt mù bão cát/ Tiếng lính gọi từng giây khẩn thiết/ Đảo tìm nhau xếp lại đội hình”. Nguyễn Trọng Tạo lại viết về tập thể những người lính vẫn vững vàng trên đảo bão, như là biểu tượng của cột mốc chủ quyền thiêng liêng:

Bão rú gầm rách tã những tảng mây
Những người lính cởi áo ra che pháo
Những người lính ngã nhoài trong gió bão
Lại đứng lên. Gió lại giật ngã nhoài…[…]
Đảo vẫn đứng hiên ngang như đứng vậy từ xưa
Dáng người lính sáng lên cùng đá đảo
Những người lính đầu trần không áo
Lại đắp dày công sự của mình lên

Phần “Vĩ thanh” là một phần tương tự như cái kết thúc có hậu trong truyện cổ dân gian. Chúng ta đã cắm mốc chủ quyền bằng những “cột mốc sống”. Chúng ta có những người lính biển dầy dạn chiến chinh. Chúng ta đã có những trận hải chiến ác liệt. Chúng ta vẫn vững vàng trong bão tố biển khơi. Và những gì của ông cha ta để lại, chúng ta phải giữ lấy bằng mọi giá. Và đảo đá đã thành quê:

Nghe tiếng gà gáy trưa trên ghềnh đá
Nghe tiếng bò gọi đêm thân thương quá
Tiếng chuông chùa rung động cả hoàng hôn
Tiếng lính hát ca, tiếng trẻ đến trường
Ríu rít bài đồng dao mới

“Nu na nu nống
Đánh trống phất cờ
Biển cả xa mờ
Có hai quần đảo
Hoàng Sa, Trường Sa
Tên gọi thiết tha
Trong lòng dân Việt”

Kết thúc trường ca là một sự thấu hiểu bằng con tim:

Biển nơi này mặn lắm
Những cuộc đời máu thắm đã thành hoa

Rất nhân văn, và cũng rất trọn vẹn khi “Điệp khúc tiếng sáo” luôn luôn trầm bổng khắp bản trường ca. Nó như vừa gói lại mỗi chương, lại như vừa nhắc lại và mở ra dòng mạch phát triển của chủ đề chính với một sắc thái mới mang tính phức điệu trong cấu trúc âm nhạc:

Nhặt lên viên sỏi tuổi thơ
Ném ra biển cả nào ngờ sóng dâng
Mọc lên lớp lớp tầng tầng
Đảo chìm đảo nổi đá ngầm san hô
Những vùng biển đẹp như mơ
Trường Sa cát trắng Hoàng Sa cát vàng…

Nhặt lên hạt muối, thưa rằng:
Một phần biển mặn. Mấy phần máu xương…

Tôi đã đọc nhiều trường ca, nhiều tiểu thuyết viết về sự hi sinh của chiến sĩ ta. Nhưng không thể nào không rưng rưng khi đọc những câu thơ về sự hi sinh kiêu hãnh mà đau xót của các chiến sĩ giữ đảo Gạc Ma:

Những người lính sát vào nhau một vòng tròn khép kín
Mặc pháo 100 li từ biển bắn vào
Các anh hóa thành sao
Các anh hóa thành cờ
Mỗi người lính một lá cờ Tổ quốc

Đó chính là tượng đài của sự hy sinh đã được dựng bằng thơ.

Cái mới mẻ và hấp dẫn của tập trường ca này chính là bên cạnh những câu thơ được viết kĩ, trau chuốt, vừa có vẻ thô mộc cường tráng, vừa tràn đầy cảm xúc và mang tính khái quát cao, thì có những đoạn văn xuôi đậm đặc tư liệu lịch sử, thông tấn. Không chỉ một đoạn mà nhiều đoạn từ sách của Lê Quý Đôn, từ sách sử triều Nguyễn, và từ những trang báo, trang tin về Hoàng Sa, Gạc Ma… (Theo sức đọc còn hạn chế của tôi, chưa có một trường ca nào làm như vậy!). Thế mà những đoạn văn xuôi tư liệu ấy lại mang tới rất nhiều lượng thông tin tâm hồn. Đó là cách mà Nguyễn Trọng Tạo đã làm cho dòng mạch trường ca trở nên sinh động, có sức cuốn hút riêng.

Cuối cùng, chúng tôi muốn nói tới những tìm tòi của tác giả Nguyễn Trọng Tạo trong bản trường ca này. Các chương được liên hệ với nhau chặt chẽ theo chiều rộng không gian Móng Cái, Bạch Long Vĩ, Vịnh Hạ Long, Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc. Và theo chiều dài lịch sử từ khi nhà Nguyễn lập Hải đội Hoàng Sa, cho đến những trận hải chiến gần đây nhất. Tác giả đã sử dụng những thần thoại, truyền thuyết về Con Rồng cháu Tiên, về Đảo là con trai đất liền, Biển là tiên nữ; về việc ném đá thành các đảo, và cả những tục lệ “Tế lễ sân đình/ Tế lễ khao quân/ Tế sống lính lên đường” trong nghi lễ dân gian. Nhân vật xưng tôi trong bản trường ca khi là một người bình thường “ra khơi vào lộng”, nhưng khi lại hóa thành một nạn nhân trên thuyền bị hải tặc ráp vây, hoặc thành “con thuyền bị đâm trên biển của mình/ Những xương sườn gãy nát”, khi khác thì “Tôi con thuyền gãy nát cột buồm” và như là trong thần thoại “Tôi mảnh ván tả tơi lại mọc thành cây/ Thành rừng xanh/ Thành cổ thụ/ Lại xẻ ván đóng thuyền”. Tôi chính là người lính hải quân, có người cha đã viết bài thơ “Những người lính đi qua thành phố”. Có khi tôi lại xưng anh với “em” trong một khổ thơ, tự nó đã thành một bài thơ độc lập: “Bây giờ trên đảo tuần tra/ Sau mưa, tôi lẫn chan hòa nắng lên/ Nắng như nắng nhớ đất liền/ Tôi như tôi chẳng xa em bao giờ/ Bởi tôi tin tự trong mơ/ Em là biển biếc bãi bờ là tôi”. Nhân vật tôi vì thế mà đa dạng, đa thanh. Sử dụng “điệp khúc tiếng sáo”, sử dụng những ghi chép trog sách vở, trong bản tin. Sử dụng cả đồng dao mới (do Phạm Xuân Nguyên đặt lời). Sử dụng bài thơ hay của mình đã viết về người lính. Tất cả đều được huy động có chọn lọc, được sắp xếp cài đan chặt chẽ. Đó chính là độ chín trong nghề nghiệp của người viết. Và điều cuối cùng là có nhiều câu thơ hay có thể đứng độc lập.

Một bản trường ca hay là bản trường ca có giá trị tư tưởng cao và có giá trị văn chương tương ứng. Thiếu một trong hai thứ, là không trọn vẹn. Rất đáng ghi nhận là giá trị tư tưởng của bản trường ca này nằm trong văn mạch yêu nước, một truyền thống quý báu của dân tộc. Và về nghệ thuật, ngoài bố cục chặt chẽ liền mạch, hợp lí, còn có rất nhiều câu thơ được viết bởi một tài hoa đang vào độ chín. Những câu thơ có thể neo vào tâm trí mọi người, như mỏ neo của các tàu chiến sĩ hải quân neo vào lòng biển.

Trong một rừng trường ca của chúng ta, (theo Đỗ Quyên “đến nay – 2/10/2012 – trong tổng số 409 tác giả, có 293 tác giả trường ca và 116 tác giả thơ dài có tính trường ca: trung bình mỗi tác giả đã viết hơn 2 tác phẩm có tính trường ca” – nguồn: khoavanhoc.edu.vn, nghĩa là có khoảng 1000 trường ca). “Biển mặn” là một trường ca thành công. Nó càng đặc biệt có ý nghĩa khi trường ca này ca ngợi những người lính biển đang tiếp nối “Trường Sơn Rừng” của lớp lớp cha anh.

Hà Nội, 13/12/2015

RELATED ARTICLES

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

KHI XÃ HỘI XUỐNG CẤP, NHÀ THƠ – NGƯỜI Ở ĐÂU?

NGUYỄN TRỌNG TẠO (Nguyễn Đức Tùng thực hiện) Nguyễn Đức Tùng: Rất vui được trò chuyện với anh Nguyễn Trọng Tạo, chàng thi sĩ lãng mạn...

Mà đời vẫn say, mà hồn vẫn gió…

NGUYỄN VIỆT CHIỄN Ngày ấy mà Tạo đã thân với Hoàng Cầm, Văn Cao làm tôi choáng, tôi bái phục. Đi chơi với Tạo, tức...

2 COMMENTS

  1. NGUYỄN TRỌNG TẠO là nhà thơ của “NHỮNG BÔNG HOA VẪN CỨ NỞ ĐÚNG MÙA …”: từ “TẢN MẠN THỜI TÔI SỐNG”…. đến “BIỂN MẶN” … CHÚC MỪNG ANH ! Nhân đọc thơ của Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, tôi nhớ lại cảm xúc cùng các chiến sĩ biên phòng tại Biên cương Trùng Khánh, Cao Bằng năm 1980: NHẬT KÝ VÙNG BIÊN
    I. SÁNG
    Sương mù trắng cả vùng biên
    Trên cọng lá long lanh màu mây nước!
    II. TRƯA
    Núi rừng bừng tỉnh giấc
    Lá rì rào biếc một màu xanh!
    III. CHIỀU
    Sương xuống vấn vương trên cành lá
    Núi rừng sao giống cảnh thần tiên !
    .
    IV.TỐI
    Cái lạnh về khuya se nỗi nhớ
    Căm thù nóng bỏng bước tuần tra !
    Trùng Khánh, Cao Bằng 1980

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -

Most Popular

SINH NHẬT MÙA THU

NGUYỄN TRỌNG TẠO SINH NHẬT MÙA THU Tặng Em Ai giấu trong màu thu Bông cúc xanh tháng bảy Nhìn cánh hoa anh thấy Thu về cùng gió xanh Ai giấu...

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

BỐ VÀ CON

NGUYỄN TRỌNG TẠO Tặng con và bố Tú Con gọi nồng nàn tiếng bố Bố cưng gái rượu yêu kiều  Rồi con thành bà nội ngoại Bố mãi gọi...

KHI XÃ HỘI XUỐNG CẤP, NHÀ THƠ – NGƯỜI Ở ĐÂU?

NGUYỄN TRỌNG TẠO (Nguyễn Đức Tùng thực hiện) Nguyễn Đức Tùng: Rất vui được trò chuyện với anh Nguyễn Trọng Tạo, chàng thi sĩ lãng mạn...

Recent Comments

loctran on THỜI MẠT
Đào Nguyên Lan on THƠ NGUYỄN NGỌC VƯỢNG
tamnguyenxuan55gmail.com on 3 TẢN VĂN CỦA ĐẬU THỊ THƯƠNG
Vương on ĐẤT NƯỚC TÔI
Nguyễn Hoàng Sơn on NHÀ THƠ NGUYỄN DUY VỀ LÀNG
tu sinh on BA THẰNG BẠN
Nguyễn Thanh Cừ on TỔNG THỐNG
Trần Anh Dũng on THƠ ĐẶNG LƯU SAN
Nguyễn Ngọc Phong on “SUY NGẪM” CỦA LÊ THANH DŨNG
Hoàng Trí on NGỤM CHÁO LÚ
Trâu Hà Tĩnh on BA CÂU HỎI CHO HOÀNG HƯNG
sonnghithu@gmail.com on NGƯỜI VỀ TRƯỜNG SA
phamducquy on THƠ VÕ THANH AN
trần vũ long on THƠ VÕ THANH AN
Nguyễn Trường Sơn on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
TRẦN NHUỆ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Nguyễn Thanh Cừ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Lê Kinh Thắng - Tham tán Thương mại tại Nam Phi on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Lê Anh Phong - TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Nguyễn Thị Bích Lài - Đồng hương của hai người hiện ở TP. Pleiku - tỉnh Gialai – Pleiku. on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Phạm Đông on VĂN TẾ CÂY HÀ NỘI
Nguyễn Thanh Cừ on ĐỐI THOẠI VỚI LÝ QUANG DIỆU
Nguyễn Thanh Cừ on XIN ĐỪNG ĐỤNG VÀO CÂY…
Người lái đò on ĐANG SỐNG MÀ ĐÃ BẢO TÀNG…
Phan Thai Duc Hieu on THÂN PHỤ TÔI
THUYTANTHUYTRUONG on TUYẾT NGA
jamesnguyen on CON TUYẾT
jamesnguyen on KIẾP HÀI NHI
Khanh nguyen on NẾU NHƯ KHÔNG… NẾU
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Pham Tien Cat on NGUYỄN HOA VÀ THƠ
Anh Nguyên on CÁI ĐINH ỐC
Nguyễn Thanh Cừ (Hà Nội) on NGUYỄN TRỌNG TẠO HAY ÔNG “ĐỦ MÓN, 5 SAY”
phạm Dũng on SUY NGHĨ VỀ HÒA HỢP
Nguyễn Thị Long on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
nguyễn thị thanh minh on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on VĨNH BIỆT NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG SÁNG
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on KHÚC HÁT SÔNG QUÊ – BÀI CA CỦA MỌI NGƯỜI
Lâm Bích Thủy on THƠ VALENTINE 2014
Anh Nguyên on THƠ VALENTINE 2014
Pham Tuấn Thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguyễn Tiến Dũng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Phạm Trường Thi on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phạm tuấn thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguoi mien nui on QUYẾT LIỆT LÀ… TAN VỠ
Nguyễn Mộng Nhưng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phó thường dân on NGUY CƠ TỪ TRUNG QUỐC
thời đại khoa học on GẶP TƯỚNG GIÁP VÀ NGẪM VỀ NGƯỜI
Nỗi buồn hoa phượng on TRUYỆN CỰC NGẮN: BIẾU SÁCH
Gloomy 1721979 on KINH SÁCH CỦA NƯỚC VỆ
Dân gian: "Nhà văn nói láo, nhà báo nói phét" on NƯỚC ICELAND KÍNH TRỌNG NHẤT NGHỀ VIẾT VĂN
Hoạ sĩ Trần Thị Bích Huệ on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Huỳnh Văn Úc on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Van Duc on HOA MẠC TRẮNG
nguyễncamgiang@yahoo.com.vn on NHỮNG CÁI CHẾT TỨC TƯỞI CỦA NHÀ VĂN
Danh Hiếu on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Nhan Van on HỒI KÝ CA SĨ
Bà Ngoại on HỒI KÝ CA SĨ
Văn Nhân. on HỒI KÝ CA SĨ
Dungquy on HỒI KÝ CA SĨ
Người nhà quê on SUY NGẪM CỦA LÊ THANH DŨNG
nguyenvan on TÔI YÊU VIỆT NAM
Thanh Minh on TÔI YÊU VIỆT NAM
Hoàng Lãng Thụy on INRASARA BÌNH BÀI THƠ “CHIA”
Đỗ Cảnh Thìn on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
ANH NGUYỄN on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Nguyễn thanh Hà on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Thanh nien nghiem tuc on ĐẶNG HUY VĂN DẶN PHƯƠNG UYÊN
Hà quang Minh on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Trọng Hoàng on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Văn Nhân. on HỌC LÀM QUAN
vũ thảo on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on HỌC LÀM QUAN
Nguoi lam thue on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
nguyenvan on HỌC LÀM QUAN
GÀ QUÊ on HỌC LÀM QUAN
montaukmosquito on HỌC LÀM QUAN
Phạm Lưu Vũ on KHÔNG ĐỀ 72
Hạnh Nhung on KHÔNG ĐỀ 72
dinhqn on KHÔNG ĐỀ 72
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Khánh Minh on KHÔNG ĐỀ 72
Nhị Mai on KHÔNG ĐỀ 72
Bá Tiến on TUYẾT NGA
Thanh Minh on TUYẾT NGA
HOÀNG TRƯỜNG SA on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Gloomy 1721979 on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Thập tứ đại ngu. on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
mai thanh sơn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Hồ Muôn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
ANH NGUYỄN on LƯU MANH KẺ CHỢ
ANH NGUYỄN on CHÙM THƠ BIỂN
Thanh Minh on LƯU MANH KẺ CHỢ
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Vũ Xuân Tửu on LƯU MANH KẺ CHỢ
luong thien on LƯU MANH KẺ CHỢ
nguyenvan on LƯU MANH KẺ CHỢ
Phan Thế Thủy on LƯU MANH KẺ CHỢ
T. A. T on THÂN PHỤ TÔI
Lê văn Minh on THÂN PHỤ TÔI
Tô Lê Sơn on THÂN PHỤ TÔI
ANH NGUYỄN on SẮC DỤC
Đỗ Duy Văn on THÂN PHỤ TÔI
Lưu Đinh Anh on SẮC DỤC
hao hao on THÂN PHỤ TÔI
nguyenvan on 23 TẦNG NGƯỜI
Văn Trường Lưu on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Hoàng Văn Hoan on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Trần Thị Bích Huệ on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
nguyen van lung on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Ngô Văn Hải on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Phan Huy Vũ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Trần Thị Bích Huệ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Nguyễn Hữu Đức on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
Nguyễn Thị Chinh on VĂN CAO: TRƯƠNG CHI LÀ TÔI ĐẤY
Nguyen Van Nam on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
Thanh Minh on GIA PHONG XỨ NGHỆ
NGUYỄN VĂN ĐOÀN on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
LÒ LÃO NÔNG/NGUYỄN ĐỨC TOAN on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
(Vẫn là) Cháu ngoan Bác Hồ. on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
nguyễn văn Đức on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người nhà quê on GIA PHONG XỨ NGHỆ
Nguyễn Đắc Vinh on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Ngọc Rô on CÒN ĐÂU SÔNG NHUỆ NGÀY XƯA
Giời Ơi on GIA PHONG XỨ NGHỆ
T Nguyen on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Ha Dinh Van on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Muathuhanoi on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Người VN Yêu Nước on CỦA CE’SAR XIN TRẢ LẠI CHO CE’SAR
nguyenvan on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Nguyên on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Ông Đồ xứ Nghệ on HOÀNG SA LÀ ĐÂU HỞ NGOẠI?
Bác Hồ sống mãi trong sự cay đắng cùa chúng ta! on SỰ NHẦM LẪN LỜI CA “GỬI NGƯỜI EM GÁI MIỀN NAM”
mai ngoc on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Trịnh Công Tiến on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Khách qua đường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đỗ Duy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hà Văn Thịnh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Tăng Bá Hùng on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
trần cường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
phạm văn Lâm on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Hoàng on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hoàng Thiên Thanh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Gia đình Liệt sĩ chống Pháp, chống Mỹ on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
thiên đường XHCN on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Gia Linh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Trường Sơn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Văn An on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Nguyễn Văn An on MINH VƯƠNG
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
ANH NGUYỄN on THƠ XƯA CHƯA CŨ
Biết Tuốt on CHÂN DUNG PHÁC THẢO
Thanh Minh on TUYỆT THỰC
Công Trình on TRƯỜNG SA LÀNG TA
ĐoànhĐoành@ on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
Anh Hoa on TUYỆT THỰC
tù nhân lương tâm on TUYỆT THỰC
mai ngoc on TRƯỜNG SA LÀNG TA
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
kieuhung on TUYỆT THỰC
buncuoiwa on TUYỆT THỰC
Bà Ngoại on PHẠM DUY VÀ TỐ HỮU
Nguyễn Trường Sơn on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Khúc hát sông quê on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Cùng là người HN on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Văn Đức on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
Hoàng Xuân Thảo on THƠ CHO THIẾU NHI: CHÂN VÀ CÁNH
Hoàng Xuân Thảo on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
ĐoànhĐoành@ on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Trần Thường Kiệt on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Trần Thường Kiệt on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Cai nuoc minh no the on LỄ TANG ÔNG HỒ ĐỨC VIỆT
Công Luận on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Phạm Lưu Vũ on LIÊN HOAN THƠ TẠI PHÁP
Hoàng Khải on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
truclamthientruongy on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Móng Rồng on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trần Dân Đen on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trương Duy Nhì on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Hiên ngang, sáng ngời.... on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Triời mô xanh bằng trời Can Lộc on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Phạm Hồng Thái on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Người VN Yêu Nước on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Hồn Ma Võ Văn Kiệt on NGUYỄN KHOA ĐIỀM: SỰ TẦM THƯỜNG
HTvinh on SẮC DỤC
hát xẩm xứ nghệ on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on THƠ LÊ TUẤN LỘC
Nhân Văn Giai Phẩm on NGƯỜI MÊ VĂN HỌC BA LAN
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
D.Nhật Lệ on TÀI – TAI
3 Dê (tên tục Nguyễn Mười-Tạ Dũng, huý tự Nguyễn Chí Dũng) on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
park gil oung on ÁO LỤA VÀ HOA SEN
Người sông Tiền on VĨNH BIỆT NGƯỜI VỀ SÔNG TƯƠNG
Dương Diệu Minh on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
Phương Xa Ty on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
hát xẩm xứ nghệ on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Văn Đức on HUYỀN BÍ VÂN KIỀU
Lương Dũng Hà on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC THƠ LÊ THÁI SƠN
xuân thơm on TẠI SAO VIỆT NAM?
Tran Kim Phuong on CHUYỆN TẮM TIÊN
Văn Đức on DỊU DÀNG
Bà thành on CHUYỆN TẮM TIÊN
Khách qua đường on GẶP GỠ THÁNG TƯ
mai ngoc on C’EST LA VIE! (*)
Nguyễn Hữu Cường on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
PHƯƠNG NAM on 4 PHÚT TUYỆT VỜI
Bất công on C’EST LA VIE! (*)
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
nguyễn xuân on THƠ BÙI MAI HẠNH
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
Vinh on BÁC SĨ THÚ Y
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hát xẩm xứ nghệ on THƠ MỚI CỦA LÊ HUY MẬU
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
Vũ Đức Thắng on NGUYỄN PHAN HÁCH VÀ TÔI
nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hội những người ko được giải là đây on CHÙM THƠ PHẠM ĐƯƠNG
V. Đ. on NGẪU HỨNG
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
ChâuDiên on CỬA LÒ QUÊ CHA
Văn Đức on CỬA LÒ QUÊ CHA
phạm hữu đăng đạt on THẾ HỆ TÔI, MỘT THẾ HỆ CÚI ĐẦU
VIỆT HƯNG on CỬA LÒ QUÊ CHA
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
Biển Đen on THỦ PHẠM
Tiến Hùng on THỦ PHẠM
Người VN Yêu Nước on THỦ PHẠM
Dinh Trung on THỦ PHẠM
Phạm Lưu Vũ on THỦ PHẠM
c on NHÂN DÂN
Văn Đức on CHIẾN TRANH
lanh thu on CHIẾN TRANH
vu vơ on CHIẾN TRANH
Lâm Tú on CHIẾN TRANH
Điện Hải 1858 on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Nguyễn Anh Hùng on CHIẾN TRANH
Thái Doãn Táo on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Bùi Thạch Hãn Cựu chiên binh on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Nguyễn Đức Giang on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
mayhong hồ tây hà nội on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
FAn của Boi on BẠC MỆNH MỘT TÀI HOA!
Nguyễn Xuân Lai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
nhà thơ Nguyễn Thị Mai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Ước mơ dân chủ công bằng on NGHĨ VỀ TRẢ LỜI VTV CỦA ÔNG NGUYỄN ĐÌNH LỘC
Cu Lon on THƠ MẠC MẠC
VIỆT HƯNG on NGÔN NGỮ MỚI
Bich Khe on NGÔN NGỮ MỚI
Nguyễn Xuân Lai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC LÀ NIỀM LẠC THÚ
Bà thành on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Vĩ Trung Ngân on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Đảng ta vĩ đại thật on MỘT BÀI HỌC TỪ PHẠM QUỲNH
108 anh hùng lương sơn bạc on BA SÀM ƠI, NGƯƠI Ở ĐÂU?
108 anh hùng lương sơn bạc on BLOG BA SÀM LẠI BỊ CƯỚP VÀ BỊ XUYÊN TẠC
Nguyễn Đức Tùng on DU TỬ LÊ GIỚI THIỆU TRỊNH SƠN
Phương Xa Ty on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Nguyễn Trường Sơn on CÔNG AN KHÔNG ĐỨNG TRÊN LUẬT
hoanganh lam on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ