Thứ Ba, Tháng Sáu 15, 2021
Home Bài của bạn NHÂN CÁCH BẬC QUỐC SĨ

NHÂN CÁCH BẬC QUỐC SĨ

HOÀNG QUỐC HẢI

Đọc “Lê thị gia phả” tức gia phả họ Lê của danh nhân Lê Đại Cang, có mấy chi tiết tôi rất thú vị.

Thứ nhất, về hưu, ông lập chùa tu, đặt tên chùa là Giác Am, xưng hiệu là Giác Am cư sĩ. Ông viết di chúc dặn cháu con không được ra làm quan (theo nhà soạn tuồng, nhà văn hóa Mịch Quang). 

Thứ hai, khi từ quan hồi hương lúc 72 tuổi, về sống ở Luật Chánh, đồ đạc mang về ông Lê Đại Cang quí nhất là thanh long đao và chiếc đòn khiêng võng. Chiếc đón khiêng võng đã gắn bó cùng ông trong hai lần bị cách chức xuống làm lính dõng, lần trước thì nhanh chóng được phục chức, còn lần sau phải lãnh thêm tội chết, nhưng được cho hưởng đặc ân “trảm giam hậu” (tức là bị tội chết nhưng chưa phải chết ngay). Hiện nay, chiếc đòn khiêng võng này đã được giao cho Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bình Định lưu giữ, trưng bày còn thanh long đao nghe nói vì thiêng quá, nên gia tộc e sợ đã cho khiêng ném xuống vực ông Đô đầu làng (theo nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Thế Khoa).

 

Tôi thích thú bởi cái chất phóng dật của một nhà nghệ sĩ trong cụ Lê Đại Cang, có gì từa tựa như Nguyễn Công Trứ. Hai cụ đều coi thường danh lợi, thấy việc nghĩa thì làm, thấy việc cần làm thì làm. Hai cụ sinh gần như cùng thời, cụ Lê Đại Cang sinh năm 1771 mất năm 1847, thọ 76 tuổi, cụ Nguyễn Công Trứ sinh năm 1778, mất năm 1859 thọ 81 tuổi. Cụ Lê Đại Cang từ quan hồi hưu năm 72 tuổi, cụ Nguyễn Công Trứ hồi hưu năm 70 tuổi.

Hai cụ cùng sinh ra trên dải đất miền Trung. Cụ Trứ sinh tại Hà Tĩnh, cụ Cang sinh tại Bình Định theo gia phả thì gốc gác ở Nghệ An, nhưng cái huyện cố hương của cụ thực ra là nằm ở địa phận Hà Tĩnh. Truy nguyên hóa ra hai cụ là đồng hương, thảo nào tính cách cũng hao hao.

Cụ Nguyễn Công Trứ khi làm “Doanh điền sứ”, có công khai hoang lấn biển hai huyện Kim Sơn và Tiền Hải, được dân yêu kính dựng đền, đình, thờ làm thành hoàng sống. Sự nghiệp khai hoang của cụ Trứ tới nay vẫn là mẫu mực về lấn biển và tưới tiêu dựa theo thủy triều. Còn cụ Lê Đại Cang chỉ có ba năm giữ chức Đê chính sứ Bắc Thành (gồm Hà Nội và các tỉnh Bắc Bộ từ Ninh Bình trở ra) mà hoàn tất công việc đê điều cho Hà Nội và các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Sơn Tây, Hưng Yên, Thái Bình, Sơn Nam, Hà Nam. Không những thế, cụ còn viết sách mô tả hệ thống đê kè, cầu cống có liên quan đến việc trị thủy, và mô tả kỹ những đoạn đê trong lịch sử thuộc xã, tổng huyện nào, cả những khu vực xung yếu cần coi trọng. Sách ấy, không chỉ làm tài liệu cho đương thời mà còn rất hữu ích cho cả đời sau.

Ta hãy xem sức làm việc của cụ. Vào tháng 9 năm 1828,  Lê Đại Cang được vua Minh Mạng: “Sai Hữu tham tri Hình bộ là Lê Đại Cang sung chức quản lý Đê chính”. Vậy mà tháng 11 năm ấy, cụ đã khảo sát xong 18 sở đê cũ cần bồi đắp thêm đều là đại công trình cả, ngoài ra còn 10 sở đê mới thuộc các tỉnh Sơn Tây, Sơn Nam, Nam Định, cộng 8500 trượng, riêng sở đê mới Kim Quan thuộc Bắc Ninh dài 890 trượng, đất ấy ruộng chiêm trũng ướt, thi công rất khó, xin đến thượng tuần tháng 12 năm nay khởi công. Không chỉ khảo sát mà còn lên cả dự trù kinh phí khoảng 175.500 quan và trực tiếp đứng ra chỉ huy thi công. Tất cả các việc ấy đều được vua y cho.

Sức làm việc của cụ Cang có thể nói là kinh khủng. Không chỉ khảo sát trên thực địa mà còn tiến hành điều tra xã hội học trong đám kỳ mục và dân chúng trong các địa phương, xem việc trị thủy nên giữ hay bỏ đê để khai đào sông ngòi cho thông thủy. Cuối cùng, đi đến kết luận: không thể bỏ đê!

Khối công việc lớn dường ấy mà Lê Đại Cang hoàn tất chỉ trong vòng hai tháng. Xin lỗi, với công việc tương tự ngày nay Cục Đê điều phải lập dự án, điều tra, xây dựng kế hoạch, dự trù kinh phí rồi chờ các cấp thẩm quyền phê duyệt sớm nhất cũng phải sau 3 năm mới thi công được. Ấy là chưa kể đến những việc động trời như nắn dòng chảy, dời cửa sông thì phải tính toán khối lượng đào đắp khổng lồ với gần 32km đê và phải nắm được thủy lưu, thủy chế của dòng sông ấy diễn tiến ít ra trong vòng vài chục năm, thậm chí cả trăm năm mới cho ta thông số kỹ thuật.

Ở đây không chỉ cho ta biết tinh thần trách nhiệm mà cả nghệ thuật quản lý và trình độ am hiểu khoa học của Lê Đại Cang xuất chúng thế nào. Đối chiếu với trận bão số 8 vừa qua tại TP Hải Phòng, khi bão tràn vào, Chủ tịch Thành phố không tài nào liên lạc được với ông Thường trực chống lụt bão của Thành phố. Và chỉ tìm thấy ông ta khi bão tan. Do vậy, Hải Phòng là tỉnh thiệt hại nặng nhất trong các tỉnh duyên hải Bắc Bộ.

Công việc của cụ Lê Đại Cang làm về đê điều ở Bắc Thành trong vòng hai tháng, có thể so với cụ Lê Quý Đôn (1726 – 1784) viết sách “Phủ biên tạp lục”.

Tháng 10 năm 1774, Trịnh Sâm thân chinh đem quân vào đánh Đàng Trong  của các chúa Nguyễn, lấy được xứ Thuận Hóa đặt thành ty trấn. Lê Quý Đôn được cử giữ chức Hiệp trấn tham tán quân cơ. Lê Quý Đôn đã làm nhiệm vụ này sáu tháng ở Thuận Hóa. Trong thời gian đó, ngoài việc phải tổ chức lại chính quyền, giữ gìn an ninh, phục hồi sản xuất, chăm lo đời sống nhân dân về mọi mặt, Lê Quý Đôn còn soạn xong “Phủ biên tạp lục”.

“Phủ biên tạp lục” là sách có giá trị bậc nhất về mặt lịch sử. Ngày nay, chúng ta hiểu được tình hình xã hội Đàng Trong từ thế kỷ 18 trở về trước, đặc biệt hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam là nhờ có “Phủ biên tạp lục”.

Quốc sử quán triều Nguyễn lấy khá nhiều tư liệu ở đây để soạn “Đại Nam thực lục tiền biên”.

Trong lịch sử Việt Nam, những bậc giỏi chính sự như Lê Quý Đôn, Lê Đại Cang quả thật không có nhiều.

Bây giờ, ta thử bàn đến chuyện chiếc đòn khiêng võng mà cụ Lê Đại Cang đem về nhà khi hổi hưu được xem như một vật kỷ niệm vô giá.

Khi làm Trấn Tây Tham tán đại thần tức là thay mặt triều đình giải quyết biên sự và phụ trách luôn việc cai quản Nam Vang. Trong thâm tâm Lê Đại Cang không muốn thôn tính Cao Miên, bởi ông biết trước sau rồi người Cao Miên cũng sẽ nổi lên đánh đuổi quân chiếm đóng lấy lại nước của họ. Nhưng vua Minh Mạng quyết thôn tính Cao Miên, nên đặt quan cai trị và sai Trương Minh Giảng, Lê Đại Cang là các đại thần kiêm quản.

Về quan điểm này, về sau trong sách “Việt Nam sử lược” cụ Trần Trọng Kim có chia sẻ: “Quan lại Việt Nam ta sang làm nhiều điều trái lẽ, nhũng nhiễu dân sự, lại bắt Ngọc Vân quận chúa đem về để ở Gia Định, bắt bọn Trà Long và La Kiên đầy ra Bắc Kỳ, dân Chân Lạp ai cũng oán giận, chỗ nào cũng có giặc giã nổi lên đánh phá. Lại có em của Nặc Ông Chân là Nặc Ông Đôn khởi nghĩa, có người Xiêm La giúp đỡ, thành ra quan quân đánh mãi không được. Về sau, đến lúc vua Thánh Tổ mất rồi, quan quân mới phải bỏ thành Trấn Tây mà rút về An Giang. Âu cũng là bởi người mình không biết bênh vực kẻ hèn yếu chỉ đem lòng tham tàn mà ức hiếp người ta, thành ra hao tổn binh lương, nhọc mệt tướng sĩ mà lại phải sự bại hoạn, thật là thiệt hại cho nước mình” (Việt Nam sử lược, tập 2, trang 229).

Ý thức được việc chiếm đóng nước người sẽ có kết cục xấu, nhưng không thể can gián nhà vua, ông bèn dâng sớ cáo quan nhưng nhà vua không cho. Chẳng bao lâu sau, người Chân Lạp nổi dậy đánh đuổi quân chiếm đóng, khiến quân ta tổn thất khá nặng. Tội qui vu trưởng, Lê Đại Cang bị cách tuột quan chức xuống làm lính trơn, phải đến phục vụ quân thứ Hải Đông ở đạo Trà Gi.

Khi ở Trà Gi, thấy quân phủ này tổ chức quá luộm thuộm, sức chiến đấu kém, Lê Đại Cang liền đề xuất và đích thân chấn chỉnh đội ngũ, xếp đặt biền binh cho có quy củ rồi đưa binh đội này đi dẹp loạn.

Vua Minh Mạng được tâu báo việc trên, đã rất bực tức và kết án thật nặng: “Đại Cang hệ cách hiệu khước dĩ đại tướng, tự cư bất úy quốc pháp, bất cố công luận, nghi vấn tọa trảm giam hậu”. (Đại Cang là kẻ bị cách chức phải sung tiền quân hiệu lực mà hành động như một viên đại tướng, không sợ phép nước, chẳng kiêng công luận, đáng làm án trảm giam hậu!).

Lê Đại Cang là một người hào mại, anh tuấn, thấy việc phải làm thì làm chứ không so đo tính toán, nhưng Minh Mạng là người hẹp lượng, cố chấp. Đặc biệt, ông sợ kẻ sĩ ngang tàng bất úy quốc pháp (không sợ phép nước) sẽ làm quyền uy nhà vua không thiêng nữa, phải phòng bị trước, thà giết lầm còn hơn bỏ sót, nên mới triệt Lê Đại Cang nặng như vậy để răn kẻ khác.

Về việc hẹp lượng của Minh Mạng có câu chuyện kể đã được chép vào sách như sau:

“Nhà vua có thói quen ngủ trưa vào mùa hè, phải có 5 cung nữ hầu hạ: một nàng quạt, một nàng ru, một nàng gãi, một nàng đấm bóp, một nàng để sai vặt. Một hôm đang ngủ trưa, Minh Mạng bỗng ngồi dậy la to:

– Đứa nào cả gan hôn vào trán ta. Nói đi không chém đầu cả 5 đứa!

Một nàng nghẹn ngào khóc tâu:

– Thiếp được cha mẹ cho vào chầu hầu bệ hạ đã 5 năm rồi mà chưa một lần được  bệ hạ đoái tới. Bữa nay nhân thấy bệ hạ ngủ trưa mặt rồng rực rỡ như hoa, thiếp đánh liều hôn trộm. Trăm lạy, xin bệ hạ tha tội.

          Minh Mạng tựa như mỉm cười, nhưng chợt ông đổi sắc mặt phán:

          – Tội không nặng lắm. Tình thật đáng thương. Nhưng đã phạm tội bất kính, phải xử tử. Nếu không pháp luật của ta sẽ bị xem thường.

           Nói xong Minh Mạng sai đem chém. Chỉ vài phút sau nàng cung nữ dám hôn cái mặt rồng kia đã bị rơi đầu.”(Theo Đinh Công Vỹ – Chuyện tình các vua, chúa và hoàng tộc).

Hoặc giả chuyện ở đất Châu Long thành Thăng Long cũ có cô gái tên Son rất kiều diễm, được tiến cung. Khi đưa nàng vào phòng để Minh Mạng hành lạc, người ta đã bịt mắt cô. Cô gái tò mò hé dải băng để nhìn mặt rồng bị Minh Mạng đuổi thẳng về quê và cấm suốt đời không được lấy chồng. Nhân chuyện này, nhà thơ Nguyễn Bính đã viết vở kịch thơ “Cô Son” gây xôn xao dư luận sân khấu miền Bắc trong những năm 60,70 của thế kỷ trước.

Các bậc đại quan khi về trí sĩ thường lo xây cất dinh thự và trưng cờ biển vua ban, thế mà cụ Lê Đại Cang lại đem về nhà chiếc đòn khiêng lính dõng là cớ làm sao?

Việc Lê Đại Cang giữ lại chiếc đòn khiêng chính là cụ muốn lưu một vật chứng tượng trưng cho sự khinh bỉ. Bởi thế cụ mới di chúc cho con cháu không bao giờ được ra làm quan nữa. Cũng như Nguyễn Công Trứ sau những năm dài thăng trầm dưới triều Minh Mạng, cụ chán ngấy và thốt lên:

Kiếp sau xin chớ làm người

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo

Tương truyền, khi về sống những năm cuối đởi ở quê, thỉnh thoảng Nguyễn Công Trứ ngồi trên chiếc xe có con bò kéo. Nơi hậu môn con bò, cụ cho đeo một tấm mo cau, có người hỏi: Cụ làm thế để làm gì? Cụ Trứ đáp:

-Để bịt miệng thế gian!

Kẻ sĩ là như vậy đó. Chí của họ là tự do, tự tại, là dọc ngang trời đất, vẫy vùng trong bốn bể.

Ngay cả trời đất và bốn bể vẫn chưa cho là thỏa. Như Cao Bá Quát từng viết: “Đằng vân do hận cửu thiên đê” (Lên cao tới chín tầng mây vẫn hận trời còn quá thấp).

Cho nên với họ:

Chen chúc lợi danh đà chán ngắt

Cúc tùng phong nguyệt mới vui sao

(Nguyễn Công Trứ)

Vì lẽ đó, cụ Lê Đại Cang mới mở thiền tự Giác Am và xưng tên hiệu Giác Am cư sĩ.

Cao đẹp thay, nhân cách bậc quốc sĩ!

Láng Thượng 8 tháng 12 năm 2012.

RELATED ARTICLES

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

KHI XÃ HỘI XUỐNG CẤP, NHÀ THƠ – NGƯỜI Ở ĐÂU?

NGUYỄN TRỌNG TẠO (Nguyễn Đức Tùng thực hiện) Nguyễn Đức Tùng: Rất vui được trò chuyện với anh Nguyễn Trọng Tạo, chàng thi sĩ lãng mạn...

Mà đời vẫn say, mà hồn vẫn gió…

NGUYỄN VIỆT CHIỄN Ngày ấy mà Tạo đã thân với Hoàng Cầm, Văn Cao làm tôi choáng, tôi bái phục. Đi chơi với Tạo, tức...

2 COMMENTS

  1. Ý Kiến Ngắn
    (14:22, 29.03.2014)
    .
    Bài hay.
    Xin có 2 ý kiến ngắn:
    + Chuyện cưỡi bò, tôi nghe Thày giáo hồi cấp 3 kể là của Cụ Nguyễn Khuyến;
    + “Đằng vân do hận cửu thiên đê.” [Vịnh Thánh Gióng: “Phá tặc đản hiềm tam tuế vãn, …“], tôi hiểu là Cưỡi mây bay đi vì bưc mình thấy “hệ thống quyền bính” (‘cửu thiên = chín tầng’, …) đê tiện,thấp hèn quá!
    .
    Trân trọng.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -

Most Popular

SINH NHẬT MÙA THU

NGUYỄN TRỌNG TẠO SINH NHẬT MÙA THU Tặng Em Ai giấu trong màu thu Bông cúc xanh tháng bảy Nhìn cánh hoa anh thấy Thu về cùng gió xanh Ai giấu...

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

BỐ VÀ CON

NGUYỄN TRỌNG TẠO Tặng con và bố Tú Con gọi nồng nàn tiếng bố Bố cưng gái rượu yêu kiều  Rồi con thành bà nội ngoại Bố mãi gọi...

KHI XÃ HỘI XUỐNG CẤP, NHÀ THƠ – NGƯỜI Ở ĐÂU?

NGUYỄN TRỌNG TẠO (Nguyễn Đức Tùng thực hiện) Nguyễn Đức Tùng: Rất vui được trò chuyện với anh Nguyễn Trọng Tạo, chàng thi sĩ lãng mạn...

Recent Comments

loctran on THỜI MẠT
Đào Nguyên Lan on THƠ NGUYỄN NGỌC VƯỢNG
tamnguyenxuan55gmail.com on 3 TẢN VĂN CỦA ĐẬU THỊ THƯƠNG
Vương on ĐẤT NƯỚC TÔI
Nguyễn Hoàng Sơn on NHÀ THƠ NGUYỄN DUY VỀ LÀNG
tu sinh on BA THẰNG BẠN
Nguyễn Thanh Cừ on TỔNG THỐNG
Trần Anh Dũng on THƠ ĐẶNG LƯU SAN
Nguyễn Ngọc Phong on “SUY NGẪM” CỦA LÊ THANH DŨNG
Hoàng Trí on NGỤM CHÁO LÚ
Trâu Hà Tĩnh on BA CÂU HỎI CHO HOÀNG HƯNG
sonnghithu@gmail.com on NGƯỜI VỀ TRƯỜNG SA
phamducquy on THƠ VÕ THANH AN
trần vũ long on THƠ VÕ THANH AN
Nguyễn Trường Sơn on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
TRẦN NHUỆ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Nguyễn Thanh Cừ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Lê Kinh Thắng - Tham tán Thương mại tại Nam Phi on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Lê Anh Phong - TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Nguyễn Thị Bích Lài - Đồng hương của hai người hiện ở TP. Pleiku - tỉnh Gialai – Pleiku. on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Phạm Đông on VĂN TẾ CÂY HÀ NỘI
Nguyễn Thanh Cừ on ĐỐI THOẠI VỚI LÝ QUANG DIỆU
Nguyễn Thanh Cừ on XIN ĐỪNG ĐỤNG VÀO CÂY…
Người lái đò on ĐANG SỐNG MÀ ĐÃ BẢO TÀNG…
Phan Thai Duc Hieu on THÂN PHỤ TÔI
THUYTANTHUYTRUONG on TUYẾT NGA
jamesnguyen on CON TUYẾT
jamesnguyen on KIẾP HÀI NHI
Khanh nguyen on NẾU NHƯ KHÔNG… NẾU
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Pham Tien Cat on NGUYỄN HOA VÀ THƠ
Anh Nguyên on CÁI ĐINH ỐC
Nguyễn Thanh Cừ (Hà Nội) on NGUYỄN TRỌNG TẠO HAY ÔNG “ĐỦ MÓN, 5 SAY”
phạm Dũng on SUY NGHĨ VỀ HÒA HỢP
Nguyễn Thị Long on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
nguyễn thị thanh minh on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on VĨNH BIỆT NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG SÁNG
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on KHÚC HÁT SÔNG QUÊ – BÀI CA CỦA MỌI NGƯỜI
Lâm Bích Thủy on THƠ VALENTINE 2014
Anh Nguyên on THƠ VALENTINE 2014
Pham Tuấn Thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguyễn Tiến Dũng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Phạm Trường Thi on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phạm tuấn thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguoi mien nui on QUYẾT LIỆT LÀ… TAN VỠ
Nguyễn Mộng Nhưng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phó thường dân on NGUY CƠ TỪ TRUNG QUỐC
thời đại khoa học on GẶP TƯỚNG GIÁP VÀ NGẪM VỀ NGƯỜI
Nỗi buồn hoa phượng on TRUYỆN CỰC NGẮN: BIẾU SÁCH
Gloomy 1721979 on KINH SÁCH CỦA NƯỚC VỆ
Dân gian: "Nhà văn nói láo, nhà báo nói phét" on NƯỚC ICELAND KÍNH TRỌNG NHẤT NGHỀ VIẾT VĂN
Hoạ sĩ Trần Thị Bích Huệ on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Huỳnh Văn Úc on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Van Duc on HOA MẠC TRẮNG
nguyễncamgiang@yahoo.com.vn on NHỮNG CÁI CHẾT TỨC TƯỞI CỦA NHÀ VĂN
Danh Hiếu on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Nhan Van on HỒI KÝ CA SĨ
Bà Ngoại on HỒI KÝ CA SĨ
Văn Nhân. on HỒI KÝ CA SĨ
Dungquy on HỒI KÝ CA SĨ
Người nhà quê on SUY NGẪM CỦA LÊ THANH DŨNG
nguyenvan on TÔI YÊU VIỆT NAM
Thanh Minh on TÔI YÊU VIỆT NAM
Hoàng Lãng Thụy on INRASARA BÌNH BÀI THƠ “CHIA”
Đỗ Cảnh Thìn on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
ANH NGUYỄN on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Nguyễn thanh Hà on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Thanh nien nghiem tuc on ĐẶNG HUY VĂN DẶN PHƯƠNG UYÊN
Hà quang Minh on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Trọng Hoàng on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Văn Nhân. on HỌC LÀM QUAN
vũ thảo on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on HỌC LÀM QUAN
Nguoi lam thue on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
nguyenvan on HỌC LÀM QUAN
GÀ QUÊ on HỌC LÀM QUAN
montaukmosquito on HỌC LÀM QUAN
Phạm Lưu Vũ on KHÔNG ĐỀ 72
Hạnh Nhung on KHÔNG ĐỀ 72
dinhqn on KHÔNG ĐỀ 72
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Khánh Minh on KHÔNG ĐỀ 72
Nhị Mai on KHÔNG ĐỀ 72
Bá Tiến on TUYẾT NGA
Thanh Minh on TUYẾT NGA
HOÀNG TRƯỜNG SA on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Gloomy 1721979 on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Thập tứ đại ngu. on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
mai thanh sơn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Hồ Muôn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
ANH NGUYỄN on LƯU MANH KẺ CHỢ
ANH NGUYỄN on CHÙM THƠ BIỂN
Thanh Minh on LƯU MANH KẺ CHỢ
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Vũ Xuân Tửu on LƯU MANH KẺ CHỢ
luong thien on LƯU MANH KẺ CHỢ
nguyenvan on LƯU MANH KẺ CHỢ
Phan Thế Thủy on LƯU MANH KẺ CHỢ
T. A. T on THÂN PHỤ TÔI
Lê văn Minh on THÂN PHỤ TÔI
Tô Lê Sơn on THÂN PHỤ TÔI
ANH NGUYỄN on SẮC DỤC
Đỗ Duy Văn on THÂN PHỤ TÔI
Lưu Đinh Anh on SẮC DỤC
hao hao on THÂN PHỤ TÔI
nguyenvan on 23 TẦNG NGƯỜI
Văn Trường Lưu on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Hoàng Văn Hoan on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Trần Thị Bích Huệ on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
nguyen van lung on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Ngô Văn Hải on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Phan Huy Vũ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Trần Thị Bích Huệ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Nguyễn Hữu Đức on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
Nguyễn Thị Chinh on VĂN CAO: TRƯƠNG CHI LÀ TÔI ĐẤY
Nguyen Van Nam on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
Thanh Minh on GIA PHONG XỨ NGHỆ
NGUYỄN VĂN ĐOÀN on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
LÒ LÃO NÔNG/NGUYỄN ĐỨC TOAN on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
(Vẫn là) Cháu ngoan Bác Hồ. on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
nguyễn văn Đức on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người nhà quê on GIA PHONG XỨ NGHỆ
Nguyễn Đắc Vinh on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Ngọc Rô on CÒN ĐÂU SÔNG NHUỆ NGÀY XƯA
Giời Ơi on GIA PHONG XỨ NGHỆ
T Nguyen on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Ha Dinh Van on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Muathuhanoi on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Người VN Yêu Nước on CỦA CE’SAR XIN TRẢ LẠI CHO CE’SAR
nguyenvan on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Nguyên on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Ông Đồ xứ Nghệ on HOÀNG SA LÀ ĐÂU HỞ NGOẠI?
Bác Hồ sống mãi trong sự cay đắng cùa chúng ta! on SỰ NHẦM LẪN LỜI CA “GỬI NGƯỜI EM GÁI MIỀN NAM”
mai ngoc on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Trịnh Công Tiến on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Khách qua đường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đỗ Duy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hà Văn Thịnh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Tăng Bá Hùng on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
trần cường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
phạm văn Lâm on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Hoàng on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hoàng Thiên Thanh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Gia đình Liệt sĩ chống Pháp, chống Mỹ on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
thiên đường XHCN on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Gia Linh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Trường Sơn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Văn An on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Nguyễn Văn An on MINH VƯƠNG
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
ANH NGUYỄN on THƠ XƯA CHƯA CŨ
Biết Tuốt on CHÂN DUNG PHÁC THẢO
Thanh Minh on TUYỆT THỰC
Công Trình on TRƯỜNG SA LÀNG TA
ĐoànhĐoành@ on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
Anh Hoa on TUYỆT THỰC
tù nhân lương tâm on TUYỆT THỰC
mai ngoc on TRƯỜNG SA LÀNG TA
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
kieuhung on TUYỆT THỰC
buncuoiwa on TUYỆT THỰC
Bà Ngoại on PHẠM DUY VÀ TỐ HỮU
Nguyễn Trường Sơn on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Khúc hát sông quê on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Cùng là người HN on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Văn Đức on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
Hoàng Xuân Thảo on THƠ CHO THIẾU NHI: CHÂN VÀ CÁNH
Hoàng Xuân Thảo on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
ĐoànhĐoành@ on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Trần Thường Kiệt on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Trần Thường Kiệt on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Cai nuoc minh no the on LỄ TANG ÔNG HỒ ĐỨC VIỆT
Công Luận on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Phạm Lưu Vũ on LIÊN HOAN THƠ TẠI PHÁP
Hoàng Khải on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
truclamthientruongy on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Móng Rồng on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trần Dân Đen on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trương Duy Nhì on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Hiên ngang, sáng ngời.... on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Triời mô xanh bằng trời Can Lộc on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Phạm Hồng Thái on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Người VN Yêu Nước on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Hồn Ma Võ Văn Kiệt on NGUYỄN KHOA ĐIỀM: SỰ TẦM THƯỜNG
HTvinh on SẮC DỤC
hát xẩm xứ nghệ on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on THƠ LÊ TUẤN LỘC
Nhân Văn Giai Phẩm on NGƯỜI MÊ VĂN HỌC BA LAN
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
D.Nhật Lệ on TÀI – TAI
3 Dê (tên tục Nguyễn Mười-Tạ Dũng, huý tự Nguyễn Chí Dũng) on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
park gil oung on ÁO LỤA VÀ HOA SEN
Người sông Tiền on VĨNH BIỆT NGƯỜI VỀ SÔNG TƯƠNG
Dương Diệu Minh on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
Phương Xa Ty on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
hát xẩm xứ nghệ on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Văn Đức on HUYỀN BÍ VÂN KIỀU
Lương Dũng Hà on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC THƠ LÊ THÁI SƠN
xuân thơm on TẠI SAO VIỆT NAM?
Tran Kim Phuong on CHUYỆN TẮM TIÊN
Văn Đức on DỊU DÀNG
Bà thành on CHUYỆN TẮM TIÊN
Khách qua đường on GẶP GỠ THÁNG TƯ
mai ngoc on C’EST LA VIE! (*)
Nguyễn Hữu Cường on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
PHƯƠNG NAM on 4 PHÚT TUYỆT VỜI
Bất công on C’EST LA VIE! (*)
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
nguyễn xuân on THƠ BÙI MAI HẠNH
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
Vinh on BÁC SĨ THÚ Y
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hát xẩm xứ nghệ on THƠ MỚI CỦA LÊ HUY MẬU
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
Vũ Đức Thắng on NGUYỄN PHAN HÁCH VÀ TÔI
nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hội những người ko được giải là đây on CHÙM THƠ PHẠM ĐƯƠNG
V. Đ. on NGẪU HỨNG
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
ChâuDiên on CỬA LÒ QUÊ CHA
Văn Đức on CỬA LÒ QUÊ CHA
phạm hữu đăng đạt on THẾ HỆ TÔI, MỘT THẾ HỆ CÚI ĐẦU
VIỆT HƯNG on CỬA LÒ QUÊ CHA
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
Biển Đen on THỦ PHẠM
Tiến Hùng on THỦ PHẠM
Người VN Yêu Nước on THỦ PHẠM
Dinh Trung on THỦ PHẠM
Phạm Lưu Vũ on THỦ PHẠM
c on NHÂN DÂN
Văn Đức on CHIẾN TRANH
lanh thu on CHIẾN TRANH
vu vơ on CHIẾN TRANH
Lâm Tú on CHIẾN TRANH
Điện Hải 1858 on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Nguyễn Anh Hùng on CHIẾN TRANH
Thái Doãn Táo on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Bùi Thạch Hãn Cựu chiên binh on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Nguyễn Đức Giang on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
mayhong hồ tây hà nội on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
FAn của Boi on BẠC MỆNH MỘT TÀI HOA!
Nguyễn Xuân Lai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
nhà thơ Nguyễn Thị Mai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Ước mơ dân chủ công bằng on NGHĨ VỀ TRẢ LỜI VTV CỦA ÔNG NGUYỄN ĐÌNH LỘC
Cu Lon on THƠ MẠC MẠC
VIỆT HƯNG on NGÔN NGỮ MỚI
Bich Khe on NGÔN NGỮ MỚI
Nguyễn Xuân Lai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC LÀ NIỀM LẠC THÚ
Bà thành on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Vĩ Trung Ngân on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Đảng ta vĩ đại thật on MỘT BÀI HỌC TỪ PHẠM QUỲNH
108 anh hùng lương sơn bạc on BA SÀM ƠI, NGƯƠI Ở ĐÂU?
108 anh hùng lương sơn bạc on BLOG BA SÀM LẠI BỊ CƯỚP VÀ BỊ XUYÊN TẠC
Nguyễn Đức Tùng on DU TỬ LÊ GIỚI THIỆU TRỊNH SƠN
Phương Xa Ty on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Nguyễn Trường Sơn on CÔNG AN KHÔNG ĐỨNG TRÊN LUẬT
hoanganh lam on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
batrioldman on DILI ADAM & EVA