Thứ Ba, Tháng Sáu 15, 2021
Home Bài của bạn THƠ BẰNG VIỆT - THỜI ẤY VÀ NGÀY MAI

THƠ BẰNG VIỆT – THỜI ẤY VÀ NGÀY MAI

BÙI VĂN KHA

Nhà thơ Bằng Việt.
Nhà thơ Bằng Việt.

Một ngày cuối tháng Chạp năm Kỷ Sửu (2009), tôi được cầm trên tay cuốn “Bằng Việt – Tác Phẩm Chọn Lọc” – Một Tuyển tập thơ sáng tác và thơ dịch của ông ra mắt độc giả theo kế hoạch xuất bản của Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Ngay tối đó và những ngày tiếp sau khi bước sang xuân Canh Dần (2010), tôi đọc và thưởng thức một bữa tiệc lớn – Một thế giới thơ Bằng Việt mà trước đó, dù là một người yêu và thuộc nhiều thơ ông, nhưng tôi cũng không thể có đủ các tập thơ và các bài thơ hay của ông suốt một thời thơ với nhiều chặng đường sáng tác.

Từ lời tự bạch thay cho lời tựa ở đầu tập sách, với tên bài “Người của một thời, thơ của một người”, Bằng Việt đã viết về thời đại lịch sử mà mình nhập cuộc với một niềm trân trọng : Thời Kháng chiến chống Mỹ cứu nước của cả nước và xây dựng xã hội mới ở miền Bắc. Là một nhà thơ nổi tiếng từ thời kỳ ấy, ông cũng chỉ ra thơ của mình và thơ của thời ấy không chỉ là sự minh họa, hay tuyên truyền đơn thuần như là một vũ khí một công cụ đơn giản máy móc của Đảng, của lãnh đạo và nhà thơ không đơn thuần là con rối  là cái loa dù họ xác định một cách dứt khoát rằng đó cũng là một nhiệm vụ quan trọng của mình khi sát cánh cùng nhân dân cùng dân tộc tranh đấu và kiến thiết. Bằng Việt đã nói lên những nhận thức , cảm xúc, suy nghĩ và hành động của lớp người trẻ tuổi thế hệ mình. Ông cũng chỉ ra vai trò và tư cách Công dân – Trí thức – Chiến sĩ – Nhà thơ cùng sự sáng tạo vượt lên vươn cùng thời đại hào hùng, chiến thắng vẻ vang, hy sinh cao cả và cả những riêng tư sâu lắng. Có thể nói, Lời Tựa đó là một chuyên luận tuyên ngôn chân xác và trung thực của một nhà thơ thời chống Mỹ góp tiếng nói đại diện cho thơ chống Mỹ trả lời cho ngày qua, ngày nay và cả ngày mai về thời đại, con người và thơ. Bằng Việt trả lời ba phạm trù lớn trên không chỉ là một vài bài hay một vài tập mà cả một quá trình sáng tác bốn mươi năm của mình. Và không chỉ là thơ thời chống Mỹ mà là thơ Giai đoạn sau 1975 và thơ Thời kỳ Đổi mới. Từ tập đầu Hương cây – Bếp lửa in chung với Lưu Quang Vũ (1968), tiếp “ Những gương mặt, những khoảng trời” (1973); “Đất sau mưa” (1977); “Khoảng cách giữa lời” (1984); “Cát sáng” (in chung với Vũ Quần Phương, 1985); “Phía nửa mặt trăng chìm” (1995); “Thơ trữ tình” (2002); “Ném câu thơ vào gió” (2001); và “Nheo mắt nhìn thế giới” (2008).Ngoài phần thơ sáng tác, ông còn tuyển chọn 38 bài thơ dịch của 38 tác giả theo thứ tự năm sinh, dù ở mảng này, trước đó ông đã có hẳn một tuyển tập Thơ Trữ tình thế giới.

    Vậy là một hệ thống thơ Bằng Việt đã được tuyển chọn công phu. Nói là công phu vì chính tác giả – Một nhà biên tập lâu năm và có uy tín cân nhắc và lựa chọn từng bài, lại sắp xếp theo thứ tự tập và thời gian xuất hiện để hiểu được sự phát triển của nhà thơ và tác phẩm suốt chiều dài 40 năm.

    Thơ Bằng Việt đã đi vào văn học việt Nam, được giảng dạy và nghiên cứu trong nhà trường từ lâu, được công chúng đón đợi và yêu mến. Có những bài thơ như : Bếp lửa, Trở lại trái tim mình, Về Nghệ An thăm con, Beethoven và âm vang hai thế kỷ, Tình yêu và báo động, Hoa tường vi, Nghĩ lại về Pauxtôpxky, Ném câu thơ vào gió, Lục bát cầu may, Nheo mắt nhìn thế giới, Ngôn ngữ và chính trị, Thơ hay có cần phải chết, Rượu của Nguyễn Cao Kỳ, Đệ Nhất Tổ phái Trúc Lâm giảng thiền…đã ở trong tầm cao cùng với những bài thơ của những nhà thơ nổi tiếng khác 40 năm qua trong văn học Việt Nam.

    Mỗi thời đại, mỗi giai đoạn lịch sử đều có thơ ca của mình. Mỗi nhà thơ, nhất là những nhà thơ hàng đầu, trong tác phẩm của mình đều phản ánh hình ảnh, sức sống và tâm hồn của thời đại cũng như tư tưởng, diện mạo của chính mình. Ở thời kỳ chống Mỹ, trong tập Bếp Lửa (xin phép được rút ngắn tên gọi), cái Tôi – Chủ thể đứng trên mảnh đất chiến đấu và xây dựng với một sự nhập cuộc rõ ràng và quyết liệt. Nhà thơ là chiến sĩ; Đất là nơi giành dật vì một niềm thiêng liêng cao cả; Đồng bào đồng chí cùng những người thân yêu là nơi đùm bọc sẻ san; Đến cả từng con ong, cỏ cây, bầu trời, không khí, vầng trăng… cũng thấm đượm tinh thần đấu tranh quật cường và đứng lên cùng sự sống. Và cũng từ đây hình thành phong cách chủ thể trí tuệ trữ tình của Bằng Việt. Hãy xem bài Bếp Lửa: Từ một bếp lửa của bà nội với “Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn/ Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng” đến “Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu,/ Có ngọn lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả” là cả một chuyển đổi nhận thức, nhưng cũng diễn ra tự nhiên không khiên cưỡng.

     Ở “Trở lại trái tim mình” là cả một vị thế của Thủ đô, của dân tộc trên tầm cao đánh Mỹ. Bài thơ thật hào hùng nhưng cũng thật tinh tế lắng đọng. Có những chữ, những câu thật tài hoa. Có thể nói chính năm tháng ấy, lý tưởng ấy, cuộc chiến đấu ấy đã tạo ra chất liệu cho bài thơ ấy. Và chất liệu ấy đã gặp được Bằng Việt để chúng ta hôm nay đọc những câu, không, đọc từ đầu đến cuối bài thơ thấy hết được cái hay mà ngẫm ngợi mà tin tưởng. “Tôi trở lại những bờ đường mùa xuân/ Cây già trắng lá/ Ôi thành phố tôi yêu kỳ lạ/ Cái sống như trăn trở ngày đêm/ Tôi lớn lên, lo nghĩ nhiều thêm/ Thành phố cũng như tôi đang lớn/ Những gác xép bộn bề hy vọng/ Những đầu hồi bóng nắng nhấp nhô…/  Tôi trở về những ngõ quen xưa/  Mỗi ngõ nhỏ dấu một lời tâm sự…” (Trở lại trái tim mình).

    Khúc 1 là hồn cốt, là chất Hà Nội, là nét riêng của Hà Nội như một kỷ niệm không thể nào nguôi quên trong mỗi con người Hà Nội. Khúc 2 là nhịp sống của Hà Nội những năm chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Mỹ, Hà Nội là đại biểu, là trung tâm của hậu phương lớn miền Bắc với “Những chuyến hàng đi hoài không hết/ Mỗi chuyến xe mang một tấm lòng”. Dù vậy, khi đọc “Hà Nội thức bao đêm ròng/ Không ai nhớ nữa/ Nhưng mỗi sớm nhìn vào cửa chợ/ Lại thấy hoa bày trên lối đi” thì cái nét riêng ở khúc 1 lại được phát triển ở đây. Cái hào hoa thanh lịch dẫu trong mưa bom bão đạn của quân thù cũng không bao giờ xóa được một biểu tượng Thăng Long. Chính nhà thơ cũng đúc kết lại ở khúc 3 “Có phải bao nhiêu vui buồn thời đại/ Soi vào đây càng đậm sắc màu riêng?/ Tấm lòng Hà Nội thiêng liêng/ Vẫn nguyên vẹn sau rất nhiều từng trải” để “Bao hạt cát hạt vàng lịch sử/ Hà Nội kiên tâm gạn lọc công bằng/ Nghe tiếng Bác mỉm cười đôn hậu/ Nghe bước mình vững chãi tháng năm…”. Cái chất hào hoa lãng mạn ở khúc 4 “Gáy sách cũ xếp chồng kỷ niệm/ Lá thiếp mừng đám cưới mát trên tay”, “Hà Nội bận dẫu không hề phút nghỉ/ Vẫn còn nguyên phong thái hào hoa” đã dẫn đến một nét riêng nhưng vẫn chung cho những thanh niên thời ấy “Trong mỗi ba lô quàng vai/ Đều cất giữ kho tàng chưa mở hết/ Như Hà Nội mười năm tôi biết/ Sáng hôm nay vẫn lạ nét ban đầu”.

     Từ những riêng chung ấy của Hà Nội – Đất nước, hoa cây và con người Thủ đô dũng cảm trong chiến đấu, cần cù trong xây dựng, tinh tế hào hoa trong cuộc sống, nhà thơ Bằng Việt đã khái quát cái vị thế Trung tâm đánh Mỹ – Trái tim cả nước – Cũng là trái tim thân thiết của mình bằng khúc 6 kết lại như một bản hùng ca hào sảng: “Sông Hồng ơi! Dông bão chẳng thay màu/ Rùa thần thoại vẫn nhô lưng đội tháp/ Chùa Một Cột đổ trên đầu giặc pháp/ Lại nở xòe trọn vẹn đóa hoa sen/… Dù quân thù bắn phá cuồng điên/ Tim ta đó vẫn nguyên lành Hà Nội.

    Năm 1967 cũng là năm đỉnh điểm của cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ. Bài thơ này là đỉnh điểm của Bằng Việt với tư cách là một Nhà thơ – Chiến sĩ.

    Tình yêu thương quê hương đất nước con người, tinh thần lạc quan với một lý tưởng yêu nước, một niềm tin son sắt vào nhân dân, dân tộc, tính chiến đấu không khoan nhượng với kẻ thù của tổ quốc đã tạo ra phong cách Nhân văn –  Trí tuệ – Trữ tình trong thơ Bằng Việt.Ngoài phần thơ hùng ca chiến đấu như đã nói ở trên, Bằng Việt còn có một mảng thơ với một vị trí quan trọng trong thơ chống Mỹ: Thơ Tình.Thơ Tình Bằng Việt ngay từ bài đầu tiên “Tình yêu và báo động” làm năm 1967 đã xác định mối quan hệ dứt khoát tình cảm lứa đôi gắn với hiện thực thời chiến. Nhưng ông không cường điệu hóa chiến tranh và lên gân cuộc sống. Và tình yêu cũng không chỉ hai người: “Anh nắm bàn tay em khi nói đến tương lai/ Thành phố đang cơn mưa ướt đẫm trong tiếng hát/ Chúng ta đi giữa bè bạn mỉm cười”. Ngày ấy, Hà Nội phố và làng xen nhau, chỉ có 4 khu phố nội thành và 4 huyện ngoại thành. Ngay ở Nội thành thì những làng Ngọc Hà, Cống Vị, Đại Yên, Vạn Phúc… của Ba Đình; Làng Láng, Tam Khương, Thái Hà của Đống Đa; Làng Quỳnh, Mơ, Ô Đống Mác, Thanh Nhàn…ở Hai Bà Trưng hầu như là đất nông nghiệp hoặc trồng hoa. Hà Nội một thời rộng rãi và nhiều vườn. Khi vào thơ Tình Bằng Việt vườn bỗng trở thành vườn Địa đàng: “Vườn vàng phơi lá thu/ Ánh sáng mênh mông đối mặt quân thù/ Ánh sáng tinh khôi như trong mắt trẻ/ Soi hạnh phúc tự hào, đơn giản thế/ Ngày xưa anh chưa nghĩ ra!”. Đã có rất nhiều lời bình của các nhà thơ, nhà phê bình nổi tiếng như Vũ Quần Phương, Vương Trí Nhàn về đoạn thơ này, nhất là cách đảo chữ để tạo hiệu quả hình ảnh. Câu: “Sông Hồng nước lên. Em đưa anh qua/ Tháng Tám cầu nhô hai nhịp gẫy” là bức ảnh chụp cấu Long Biên bị bom Mỹ ném trúng làm gẫy hai nhịp. Cảm động xiết bao trong cuộc chiến này tình yêu đã nâng cánh cho những người yêu để sức vóc họ bỗng trở thành mạnh mẽ, để “Ta khinh bỉ nhìn kẻ thù dậm dọa/ Không ai trở về thời đồ đá/ Khi tình yêu tới độ chín đang vừa”. Tôi rất tâm đắc với câu “Soi hạnh phúc tự hào, đơn giản thế/ Ngày xưa anh chưa nghĩ ra”. Chỉ có yêu nhau trong bão lửa và đối diện, không, phải là đứng trên đầu thù mới có thể thấu suốt được như thế. Và thế là tình yêu của Thời Bằng Việt đã khác hẳn thời Thơ Mới rồi. Xin trích nguyên một đoạn trong bài này đẻ thấy chữ Ta vừa là số đông, nhưng cũng rất Hà Nội, mà cũng rất riêng thơ:”Ta quen sống những giờ đột biến/ Bỗng sững sờ…trước một sớm không đâu/ Thành phố trong mưa. Hoa rắc trên đầu:/ Hoa mưa nở từng bông trên mái tóc/ Em tươi tắn như mùa xuân thứ nhất/ Nhưng thủy chung như một sắc mai già/ Đôi mắt mở to, dịu dàng thắm mát/ Sau rất nhiều gian khổ đi qua”. Còn trong bài lục bát” Về Huế, Đêm Rằm” thì tình yêu đan hòa vào tình thương làm câu thơ cứ nao nao:”Mùa trăng ấy, thật lâu rồi,/ Dáng em nhỏ xíu qua đồi sim mua/…Em đi… thuở ấy, vai gầy,/ Em là Huế – của đêm nay trăng tròn” cái tròn đầy của trăng với cái nhỏ xíu vai gầy của em thật ngậm ngùi tương phản.

     Nhà thơ Dương Kiều Minh có trao đổi với tôi về cái vạm vỡ sắc nét và gợi tả của tình yêu Bằng Việt nhất là ẩn trong những bài về Hải Phòng, hay cái mong manh thương cảm khi tiễn người yêu ra ga đi công tác xa trong ngày mưa gió. Những năm tháng mà tình người còn nguyên nghĩa nhường nhịn sẻ san ta gặp lại trong thơ làm một thời bỗng nhiên trong ta sống dậy.

    Có rất nhiều bài viết về “Nghĩ lại về Pauxtôpxky” và chính Bằng Việt cũng chú “Pauxtôpxky có phong cách lãng mạn cao thượng, có bút pháp phóng túng, tràn đầy lòng cảm thương và trân trọng con người, cũng như những khát vọng cháy bỏng về hạnh phúc con người”. Nhưng cuộc tranh đấu lúc này khốc liệt quá và tình yêu không chỉ là lãng mạn. Dẫu phải rất khó khăn nhưng cần phải đoạn tuyệt với thời ấy và khẳng định vị thế của mình.”Pauxtôpxky là dĩ vãng trong em/ Thành dĩ vãng hai ta. Bây giờ anh ngoảnh lại:/ Nhưng không phải thế đâu, không phải thế đâu, anh hiểu rằng không phải,/ Như tuổi thơ, vừa đó đã xa vời!/ Đưa em đi…tất cả thế xong rồi/ Ta đã lớn. Và Pauxtôpxky đã chết!/ Anh vẫn khóc khi nghĩ về truyện “Tuyết”,/Dầu chẳng bao giờ mong đợi nữa đâu em!” Bài thơ làm năm 1969, một năm sau khi Pauxtôpxky mất.

    Tôi muốn dành những suy nghĩ của mình về thơ Bằng Việt ở phần Thế sự – Công dân.Ở ông, tư cách Trí thức – Công dân bộc lộ từ rất sớm mà điển hình là những bài “Tột cùng gian truân tột cùng hạnh phúc”, “Trở lại Thái Bình”, “Về Nghệ An thăm con”, “Em hãy đến cánh đồng Mường Thanh”, “Đất trẻ”, “Hòn Khoai”…”Ôi cánh đồng rất mực bình yên/ Đã gieo giống ngay trên nền bão tố/ Thái Bình ơi, Thái Bình!/ Loa hát lớn sau buổi chiều phẫn nộ/ Cây cứ thế tưng bừng búp trổ/ Cái chết qua đi như phút trở trời” (Trở lại Thái Bình), “Em hãy đến cánh đồng Mường Thanh/ Để hiểu hết đời mình vào tuổi lớn/ Giành đất với quân thù, dẫu nhiều năm nhiều tháng/ Nhưng nuôi đất sinh sôi, là trận đánh đời đời!”. Về sau, ở tập “Ném câu thơ vào gió”, nhất là tập “Nheo mắt nhìn thế giới”, Bằng Việt viết với trách nhiệm này như một vị thế chính của thơ ông. Các Bài thơ: Cầu vượt, Sự kiện tày đình, Du lịch sinh thái, Ngôn ngữ và chính trị, Thơ hay có cần phải chết, Phim về Lý Công Uẩn, Rượu của Nguyễn Cao Kỳ, Vợ thời @, Bánh chưng bánh dày, Mưa cao nguyên,…Một loạt những bài mà tính thế sự công dân ở mức cao nhất không khỏi làm ta cảm phục trước tấm lòng cao cả ơn dân ơn nước trong thơ ông. Chỉ là một lời hứa cách đây 30 năm. Vào lúc hứa có sức nặng “Nhất ngôn cửu đỉnh” nhưng khi thời gian trôi đi không gian khác đi thì lời hứa cũng chỉ là mưa cao nguyên thoáng đến thoáng đi. Đến thì như biển nước trút xuống ào ào thác đổ, đi thì thoáng chốc sạch bách nhẹ như không. Mà cứ day dứt trong lòng người hứa, mà day dứt cũng chỉ như mưa cao nguyên. Thế mới biết cuộc đời không dễ chút nào.

    Bằng Việt rất ghét thói ăn xổi ở thì mắt không nhìn qua mày. Xin trích bài Sự Tạm Bợ: “Cái bàn gỗ tạp, cái ghế long chân,/ Ý nghĩ và việc làm đều vá víu…/ Chỗ ở cứ khất lần tạm bợ,/ Chúng ta tưởng thời thanh xuân chỉ mới bắt đầu!/ Nhưng thời gian cứ trôi/ Thời gian thẳng thừng dễ sợ…/ Cái tạm bợ đã thành một đời/ Cái tạm bợ đã thành vĩnh cửu!”. Hoặc sự ru ngủ của một thời cũng dễ làm mê đắm bao thế hệ mà quên đi rằng có một cái gì lung lay sụp đổ đến rồi sao mãi không chịu tỉnh thức: “Tôi thức ngủ giữa rất nhiều truyền thuyết…/Bà tôi chỉ thích việc đời có hậu/ Suốt đời cả tin chuyện thuở Lang Liêu…/ Có nhiều lúc tôi muốn tin là thật/ Muốn tắc lưỡi cho việc đời đơn giản!/…Tôi mất nửa đời để thoát ra truyền thuyết/ Tấm bánh mang nhiều suy tưởng hơn xưa!”. Bài thơ Bánh Chưng Bánh Dày làm năm 1989 – Bức tường Béc lin sụp đổ và tôi nghĩ cũng là lúc báo hiệu chủ nghĩa xã hội Đông Âu tan vỡ. Quá khứ dẫu đẹp – Truyền thuyết dẫu đẹp ta tôn vinh trân trọng nhưng không được sống trong đó với ảo ảnh huy hoàng. Ngày hôm nay có những vấn đề của hôm nay. Cái tứ của nhà thơ đã mượn cái tứ của bài thơ để nói về một việc không chỉ là bánh chưng bánh dày ca dao cổ tích.

    Ở Bằng Việt, đề tài quốc tế đã trở thành thân thuộc từ thời thanh niên. 19 tuổi ông sang Liên Xô học luật ở Kiep. Bài thơ Bếp Lửa làm lúc ấy. Ông giao lưu và thắt chặt quan hệ anh em với các bạn nước ngoài trong mái nhà chung Xô Viết. Cái thuở ấy in đậm trong ông và cách đánh giá của ông về Lê nin, về Che Gevara,về Gacxia Loocca, về Pablô Neruda…Những con người cống hiến đời mình cho hạnh phúc con người và tiến bộ loài người là niềm tin yêu không thay đổi. Ông hiểu rõ vị thế của họ, tư tưởng của họ, đóng góp và vinh quang của họ trên trái đất này. Ông cũng rất coi trọng dịch thuật: Dịch thơ của các nhà thơ các nước Nga, Tây ban nha, Pháp, Ấn độ, Nhật bản, Đức, Bỉ, Thổ nhĩ kỳ…sang tiếng Việt. Ông còn dịch thơ Việt sang tiếng Nga mà ông thông thuộc như tiếng mẹ đẻ, và tiếng Anh, Pháp là 2 ngoại ngữ mà ông sử dụng thành thạo. Thời bộ đội và sinh viên trong sổ tay của tôi chép những bài thơ của Onga Becgon do ông dịch cùng với bài thơ Nghĩ Lại Về Pauxtopxky nổi tiếng do truyền tay nhau. Nói như nhà thơ Phạm Tiến Duật khi còn nơi dương thế “thơ dịch với Bằng Việt như một gác xép – Nhưng với người khác thì gác xép ấy là cả một lâu đài”. Sự đóng góp của Bằng Việt trong dịch thuật như một Đại sứ thiện chí của Việt Nam về thơ ca với bạn bè năm châu bốn biển.

    Bằng Việt là thi sĩ – Là thi sĩ nên Bằng Việt mang trong mình một nỗi buồn muôn thuở. Nhưng cái buồn của Bằng Việt là cái buồn của người Trí thức – Một nhà thơ – Một Kẻ sĩ Thăng Long trước Thế và thời, trước nhân gian. “Một chút buồn trong vắt và mong manh/ Như dĩ vãng xa xưa thức dậy/ Bỗng phấp phỏng yêu đời biết mấy/ Trong nỗi bồn chồn ao ước bâng quơ!”(Đọc lại “Dế mèn phiêu lưu ký” – Ông còn ghi thêm đề dẫn: Chia sẻ với bác Tô Hoài chút cảm nhận của tuổi thơ. Bài thơ này làm năm 1961, sửa lại năm 1973); “Có nỗi buồn bay qua lỗ kim/ Có nỗi buồn lướt trên miệng vực/ Có nỗi buồn không hiểu được người/ Có nỗi buồn tìm ra mình không được” (Buồn – Làm năm 2003), “Người đàn ông đã đến tuổi buồn/ Đã đến tuổi không còn gì để nói/ Sao ngoảnh lại vẫn còn nhiều bối rối/ Vẫn còn nhiều duyên nợ ở trần gian?” (Mất Ngủ – Làm năm 2008). Ở bài thơ này, tác giả chú thích câu thơ của Tú Xương: “Khăn khăn áo áo thêm rày chuyện/ Bút bút, nghiên nghiên khéo vẽ tuồng/ Ngủ quách sự đời thây kẻ thức/ Bên chùa, chú trọc đã khua chuông!”.Có thể thấy nỗi buồn qua nhiều bài nữa – Một nỗi ngậm ngùi trong Lục Bát Cầu May, một câu chuyện xác thực nhưng đắng đót trong Bán Thuốc Ở Nam Ninh, một sâu lắng hoài niệm ở Trong Rừng. “Trong rừng…như có tuổi thơ/ Ban mai nắng thắm đón chờ bao năm/ Trong rừng…như có vầng trăng/ Tròn xoe vụng dại…đêm rằm quê xưa/ Trong rừng…như có sim mua/ Ăn không biết chát, buồn chưa biết buồn!… ” – Sầu buồn ngậm ngùi vận vào Bằng Việt “từ ngày còn không”!

    Sức mạnh trong ngòi bút Bằng Việt là trân trọng quá khứ (hay lịch sử, cũng chỉ là một cách nói) và luôn luôn cách tân. Một đề tài có thể trước đó ông đã viết nhưng với thời gian ông thấy cần phải nâng cao lên cho đúng với nhận thức của mình ông sẵn sàng viết tiếp dù chỉ nói được một ý, một tình cảm trân trọng. Như bài Bếp lửa – 1963 với bài Đôi dòng tiễn đưa bà nội – 1974; Bài Tột cùng gian truân tột cùng hạnh phúc – 1968 với bài Trở lại Thái Bình – 1971/1973; Bài Tình yêu và báo động – 1967 với bài Những đoạn thơ tình giữa hai cuộc chiến tranh phá hoại – 1969/1970…Đặc biệt ở ông luôn có một trực giác tinh tế và khả năng nắm bắt cấu tứ đến kỳ lạ như là một tài năng thiên phú.  Một hôm, Bằng Việt kinh kệ đêm mơ thấy Phật hoàng Trần Nhân Tông. Một tứ thơ lớn lao chợt đến. Nó xuất hiện vào 1000 năm văn hiến Thăng Long như là một tinh tuyển của thi pháp Bằng Việt. Đó là bài thơ “Đệ nhất tổ phái Trúc Lâm giảng thiền!” Nói như nhà thơ Hoàng Vũ Thuật thì bài thơ này đã đúc kết ba cái phận: Phận Đời, phận Người và phận Thơ. Tôi còn thêm một ý nữa: Đó còn là phận Niệm. Niệm ở đây là thức nhận, đốn ngộ, suy tư và phương pháp nữa. Nó là chủ thuyết cách tân vào khoảng những năm này. “Chấp theo lối cũ là không đúng!” – Lời Phật hoàng dạy đệ tử 700 năm trước về Tam bảo Phật – Pháp – Tăng đã nối tứ cho Bằng Việt đặt ra ba văn cảnh (tạm gọi là Tam văn):”Việc đời – Hạnh phúc trần ai – Thơ”. Chữ “Chấp” thiền tự của Phật hoàng được Bằng Việt giữ nguyên thực ra vô cùng biến hóa. Là đơn nhất nhưng cũng lại đa nguyên, là thế nhưng thực ra không phải thế. không phải thế mới chính là như thế! Chao ôi là tiếng Việt!

Trở lại với lời Tựa, lúc đầu Bằng Việt định đặt là “Người của một thời, thơ của một thời”. Nhưng  nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo góp ý nên đặt là “Người của một thời – Thơ của một người”. Tự bản thân tiêu đề này đã nói được rất nhiều.

   Nói về nhà thơ Bằng Việt, tác giả và tác phẩm thì không thể chỉ một người, một bài, một thời. Nhất là Thơ Tình Bằng Việt có nói hoài cũng chưa chắc hết. Tôi viết về ông và tuyển tập thơ ông như một món quà xuân – Như ông lúc nào cũng xuân – Không “Chấp”!

                                                       Trại sáng tác Tam Đảo

                                                                  B.V.K

 

RELATED ARTICLES

SINH NHẬT MÙA THU

NGUYỄN TRỌNG TẠO SINH NHẬT MÙA THU Tặng Em Ai giấu trong màu thu Bông cúc xanh tháng bảy Nhìn cánh hoa anh thấy Thu về cùng gió xanh Ai giấu...

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

BỐ VÀ CON

NGUYỄN TRỌNG TẠO Tặng con và bố Tú Con gọi nồng nàn tiếng bố Bố cưng gái rượu yêu kiều  Rồi con thành bà nội ngoại Bố mãi gọi...

6 COMMENTS

  1. Thơ như ri:
    “Chùa Một Cột đổ trên đầu giặc pháp/ Lại nở xòe trọn vẹn đóa hoa sen… Dù quân thù bắn phá cuồng điên/ Tim ta đó vẫn nguyên lành Hà Nội”
    Cháu xin bác Bùi Văn Kha chỉ cho Chùa Một Cột (viết hoa) làm răng mà có thể đổ lên đầu giặc pháp ( không viết hoa) ?
    Rồi “Thơ Bằng Việt đã đi vào văn học việt Nam, được giảng dạy và nghiên cứu trong nhà trường từ lâu, được công chúng đón đợi và yêu mến”
    Là nhà trường xã hội chủ nghĩa trước đây thui chớ bác? Cháu ở trong xa đâu có biết vụ nầy?

    Thanh Minh

    • Hỏi như vậy thì đọc thơ làm gì? Đọc có đến Tết Kampuchea sẽ vẫn còn mơ màng. Phải học thêm thôi. Không hiểu không biết thì cứ trau giồi mãi thì sẽ có lúc “sáng mắt sáng lòng”. Hehehe…

  2. Còn nhớ, dạo 1984-1985, Bằng Việt làm phiên dịch cho nhà văn Liên Xô – Viện sĩ thông tấn Siđôrốp, giám đốc Viện Văn học Goorky, nói chuyện về văn học xô viết cùng văn nghệ sĩ, giáo viên chính trị tỉnh Phú Khánh ở Rạp xi nê Tân Tân (Nha Trang).
    Trong cuộc nói chuyện, Siđôrốp tập trung nói về nhà văn người dân tộc thiểu số Kiếc Ghê Zia là Aimatop và tiểu thuyết “Một ngày dài hơn thế kỷ” của ông (khi đó chưa được dịch sang tiếng Việt). Đó là nhà văn và tác phẩm xô viết tiêu biểu khi ấy, nổi tiếng trong đời sống văn chương toàn thế giới. Aimatop chính là đại biểu Xô Viết tối cao đã giới thiệu Goocbachop làm ứng viên Tổng thống Liên Bang xô viết sau đó. Ông cũng là tác giả của “Người thày đầu tiên”, “Cây thông non quàng khăn đỏ”… khá quen thuộc với độc giả VN.
    Theo Siđôrốp, với “Một ngày dài hơn thế kỷ”, Aimatop muốn gióng lên tiếng chuông cảnh báo về khuynh hướng khai thác bừa bãi tài nguyên, phá hoại thiên nhiên, sẽ phải trả giá khốc liệt, về sự lãng quên cội nguồn quá khứ và quê hương của lớp trẻ, và đặc biệt, nhân loại hãy nhận rõ bản chất của giới chóp bu, dù TBCN hay XHCN, bao giờ cũng chỉ mưu cầu lợi ích ích kỷ và đặc quyền đặc lợi ăn trên ngồi chốc của chúng.
    Qua đó để thấy, giới chức cầm quyền hủ bại bao giờ cũng xem văn nghệ sĩ chân chính là kẻ thù nguy hiểm không đội trời chung. Vụ Nhân văn – Giai phẩm ở VN là bằng chứng không thể phủ nhận. Dập tắt được tự do tư tưởng ở văn nghệ sĩ, người ta dễ dàng tuyên truyền ngu dân, nô dịch lâu dài cả xã hội.

    • Tôi rất đôngý với nhận định này, nhưng có điều khó cho những người chân chính là bọn hủ bại đó lại có trong bạo lực, nhà tù và cả bon bồi bút a tòng nữa. Biết làm sao bây giờ???

  3. Chúng ta cần ghi nhớ : …giới chức cầm quyền hủ bại bao giờ cũng xem văn nghệ sĩ chân chính là kẻ thù nguy hiểm không đội trời chung ! ” Tuy nhiên, bọn hủ bại chỉ có thất bại mà thôi !

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -

Most Popular

SINH NHẬT MÙA THU

NGUYỄN TRỌNG TẠO SINH NHẬT MÙA THU Tặng Em Ai giấu trong màu thu Bông cúc xanh tháng bảy Nhìn cánh hoa anh thấy Thu về cùng gió xanh Ai giấu...

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

BỐ VÀ CON

NGUYỄN TRỌNG TẠO Tặng con và bố Tú Con gọi nồng nàn tiếng bố Bố cưng gái rượu yêu kiều  Rồi con thành bà nội ngoại Bố mãi gọi...

KHI XÃ HỘI XUỐNG CẤP, NHÀ THƠ – NGƯỜI Ở ĐÂU?

NGUYỄN TRỌNG TẠO (Nguyễn Đức Tùng thực hiện) Nguyễn Đức Tùng: Rất vui được trò chuyện với anh Nguyễn Trọng Tạo, chàng thi sĩ lãng mạn...

Recent Comments

loctran on THỜI MẠT
Đào Nguyên Lan on THƠ NGUYỄN NGỌC VƯỢNG
tamnguyenxuan55gmail.com on 3 TẢN VĂN CỦA ĐẬU THỊ THƯƠNG
Vương on ĐẤT NƯỚC TÔI
Nguyễn Hoàng Sơn on NHÀ THƠ NGUYỄN DUY VỀ LÀNG
tu sinh on BA THẰNG BẠN
Nguyễn Thanh Cừ on TỔNG THỐNG
Trần Anh Dũng on THƠ ĐẶNG LƯU SAN
Nguyễn Ngọc Phong on “SUY NGẪM” CỦA LÊ THANH DŨNG
Hoàng Trí on NGỤM CHÁO LÚ
Trâu Hà Tĩnh on BA CÂU HỎI CHO HOÀNG HƯNG
sonnghithu@gmail.com on NGƯỜI VỀ TRƯỜNG SA
phamducquy on THƠ VÕ THANH AN
trần vũ long on THƠ VÕ THANH AN
Nguyễn Trường Sơn on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
TRẦN NHUỆ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Nguyễn Thanh Cừ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Lê Kinh Thắng - Tham tán Thương mại tại Nam Phi on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Lê Anh Phong - TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Nguyễn Thị Bích Lài - Đồng hương của hai người hiện ở TP. Pleiku - tỉnh Gialai – Pleiku. on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Phạm Đông on VĂN TẾ CÂY HÀ NỘI
Nguyễn Thanh Cừ on ĐỐI THOẠI VỚI LÝ QUANG DIỆU
Nguyễn Thanh Cừ on XIN ĐỪNG ĐỤNG VÀO CÂY…
Người lái đò on ĐANG SỐNG MÀ ĐÃ BẢO TÀNG…
Phan Thai Duc Hieu on THÂN PHỤ TÔI
THUYTANTHUYTRUONG on TUYẾT NGA
jamesnguyen on CON TUYẾT
jamesnguyen on KIẾP HÀI NHI
Khanh nguyen on NẾU NHƯ KHÔNG… NẾU
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Pham Tien Cat on NGUYỄN HOA VÀ THƠ
Anh Nguyên on CÁI ĐINH ỐC
Nguyễn Thanh Cừ (Hà Nội) on NGUYỄN TRỌNG TẠO HAY ÔNG “ĐỦ MÓN, 5 SAY”
phạm Dũng on SUY NGHĨ VỀ HÒA HỢP
Nguyễn Thị Long on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
nguyễn thị thanh minh on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on VĨNH BIỆT NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG SÁNG
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on KHÚC HÁT SÔNG QUÊ – BÀI CA CỦA MỌI NGƯỜI
Lâm Bích Thủy on THƠ VALENTINE 2014
Anh Nguyên on THƠ VALENTINE 2014
Pham Tuấn Thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguyễn Tiến Dũng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Phạm Trường Thi on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phạm tuấn thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguoi mien nui on QUYẾT LIỆT LÀ… TAN VỠ
Nguyễn Mộng Nhưng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phó thường dân on NGUY CƠ TỪ TRUNG QUỐC
thời đại khoa học on GẶP TƯỚNG GIÁP VÀ NGẪM VỀ NGƯỜI
Nỗi buồn hoa phượng on TRUYỆN CỰC NGẮN: BIẾU SÁCH
Gloomy 1721979 on KINH SÁCH CỦA NƯỚC VỆ
Dân gian: "Nhà văn nói láo, nhà báo nói phét" on NƯỚC ICELAND KÍNH TRỌNG NHẤT NGHỀ VIẾT VĂN
Hoạ sĩ Trần Thị Bích Huệ on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Huỳnh Văn Úc on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Van Duc on HOA MẠC TRẮNG
nguyễncamgiang@yahoo.com.vn on NHỮNG CÁI CHẾT TỨC TƯỞI CỦA NHÀ VĂN
Danh Hiếu on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Nhan Van on HỒI KÝ CA SĨ
Bà Ngoại on HỒI KÝ CA SĨ
Văn Nhân. on HỒI KÝ CA SĨ
Dungquy on HỒI KÝ CA SĨ
Người nhà quê on SUY NGẪM CỦA LÊ THANH DŨNG
nguyenvan on TÔI YÊU VIỆT NAM
Thanh Minh on TÔI YÊU VIỆT NAM
Hoàng Lãng Thụy on INRASARA BÌNH BÀI THƠ “CHIA”
Đỗ Cảnh Thìn on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
ANH NGUYỄN on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Nguyễn thanh Hà on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Thanh nien nghiem tuc on ĐẶNG HUY VĂN DẶN PHƯƠNG UYÊN
Hà quang Minh on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Trọng Hoàng on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Văn Nhân. on HỌC LÀM QUAN
vũ thảo on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on HỌC LÀM QUAN
Nguoi lam thue on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
nguyenvan on HỌC LÀM QUAN
GÀ QUÊ on HỌC LÀM QUAN
montaukmosquito on HỌC LÀM QUAN
Phạm Lưu Vũ on KHÔNG ĐỀ 72
Hạnh Nhung on KHÔNG ĐỀ 72
dinhqn on KHÔNG ĐỀ 72
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Khánh Minh on KHÔNG ĐỀ 72
Nhị Mai on KHÔNG ĐỀ 72
Bá Tiến on TUYẾT NGA
Thanh Minh on TUYẾT NGA
HOÀNG TRƯỜNG SA on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Gloomy 1721979 on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Thập tứ đại ngu. on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
mai thanh sơn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Hồ Muôn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
ANH NGUYỄN on LƯU MANH KẺ CHỢ
ANH NGUYỄN on CHÙM THƠ BIỂN
Thanh Minh on LƯU MANH KẺ CHỢ
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Vũ Xuân Tửu on LƯU MANH KẺ CHỢ
luong thien on LƯU MANH KẺ CHỢ
nguyenvan on LƯU MANH KẺ CHỢ
Phan Thế Thủy on LƯU MANH KẺ CHỢ
T. A. T on THÂN PHỤ TÔI
Lê văn Minh on THÂN PHỤ TÔI
Tô Lê Sơn on THÂN PHỤ TÔI
ANH NGUYỄN on SẮC DỤC
Đỗ Duy Văn on THÂN PHỤ TÔI
Lưu Đinh Anh on SẮC DỤC
hao hao on THÂN PHỤ TÔI
nguyenvan on 23 TẦNG NGƯỜI
Văn Trường Lưu on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Hoàng Văn Hoan on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Trần Thị Bích Huệ on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
nguyen van lung on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Ngô Văn Hải on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Phan Huy Vũ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Trần Thị Bích Huệ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Nguyễn Hữu Đức on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
Nguyễn Thị Chinh on VĂN CAO: TRƯƠNG CHI LÀ TÔI ĐẤY
Nguyen Van Nam on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
Thanh Minh on GIA PHONG XỨ NGHỆ
NGUYỄN VĂN ĐOÀN on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
LÒ LÃO NÔNG/NGUYỄN ĐỨC TOAN on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
(Vẫn là) Cháu ngoan Bác Hồ. on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
nguyễn văn Đức on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người nhà quê on GIA PHONG XỨ NGHỆ
Nguyễn Đắc Vinh on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Ngọc Rô on CÒN ĐÂU SÔNG NHUỆ NGÀY XƯA
Giời Ơi on GIA PHONG XỨ NGHỆ
T Nguyen on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Ha Dinh Van on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Muathuhanoi on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Người VN Yêu Nước on CỦA CE’SAR XIN TRẢ LẠI CHO CE’SAR
nguyenvan on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Nguyên on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Ông Đồ xứ Nghệ on HOÀNG SA LÀ ĐÂU HỞ NGOẠI?
Bác Hồ sống mãi trong sự cay đắng cùa chúng ta! on SỰ NHẦM LẪN LỜI CA “GỬI NGƯỜI EM GÁI MIỀN NAM”
mai ngoc on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Trịnh Công Tiến on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Khách qua đường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đỗ Duy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hà Văn Thịnh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Tăng Bá Hùng on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
trần cường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
phạm văn Lâm on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Hoàng on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hoàng Thiên Thanh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Gia đình Liệt sĩ chống Pháp, chống Mỹ on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
thiên đường XHCN on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Gia Linh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Trường Sơn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Văn An on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Nguyễn Văn An on MINH VƯƠNG
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
ANH NGUYỄN on THƠ XƯA CHƯA CŨ
Biết Tuốt on CHÂN DUNG PHÁC THẢO
Thanh Minh on TUYỆT THỰC
Công Trình on TRƯỜNG SA LÀNG TA
ĐoànhĐoành@ on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
Anh Hoa on TUYỆT THỰC
tù nhân lương tâm on TUYỆT THỰC
mai ngoc on TRƯỜNG SA LÀNG TA
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
kieuhung on TUYỆT THỰC
buncuoiwa on TUYỆT THỰC
Bà Ngoại on PHẠM DUY VÀ TỐ HỮU
Nguyễn Trường Sơn on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Khúc hát sông quê on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Cùng là người HN on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Văn Đức on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
Hoàng Xuân Thảo on THƠ CHO THIẾU NHI: CHÂN VÀ CÁNH
Hoàng Xuân Thảo on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
ĐoànhĐoành@ on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Trần Thường Kiệt on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Trần Thường Kiệt on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Cai nuoc minh no the on LỄ TANG ÔNG HỒ ĐỨC VIỆT
Công Luận on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Phạm Lưu Vũ on LIÊN HOAN THƠ TẠI PHÁP
Hoàng Khải on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
truclamthientruongy on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Móng Rồng on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trần Dân Đen on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trương Duy Nhì on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Hiên ngang, sáng ngời.... on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Triời mô xanh bằng trời Can Lộc on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Phạm Hồng Thái on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Người VN Yêu Nước on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Hồn Ma Võ Văn Kiệt on NGUYỄN KHOA ĐIỀM: SỰ TẦM THƯỜNG
HTvinh on SẮC DỤC
hát xẩm xứ nghệ on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on THƠ LÊ TUẤN LỘC
Nhân Văn Giai Phẩm on NGƯỜI MÊ VĂN HỌC BA LAN
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
D.Nhật Lệ on TÀI – TAI
3 Dê (tên tục Nguyễn Mười-Tạ Dũng, huý tự Nguyễn Chí Dũng) on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
park gil oung on ÁO LỤA VÀ HOA SEN
Người sông Tiền on VĨNH BIỆT NGƯỜI VỀ SÔNG TƯƠNG
Dương Diệu Minh on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
Phương Xa Ty on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
hát xẩm xứ nghệ on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Văn Đức on HUYỀN BÍ VÂN KIỀU
Lương Dũng Hà on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC THƠ LÊ THÁI SƠN
xuân thơm on TẠI SAO VIỆT NAM?
Tran Kim Phuong on CHUYỆN TẮM TIÊN
Văn Đức on DỊU DÀNG
Bà thành on CHUYỆN TẮM TIÊN
Khách qua đường on GẶP GỠ THÁNG TƯ
mai ngoc on C’EST LA VIE! (*)
Nguyễn Hữu Cường on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
PHƯƠNG NAM on 4 PHÚT TUYỆT VỜI
Bất công on C’EST LA VIE! (*)
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
nguyễn xuân on THƠ BÙI MAI HẠNH
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
Vinh on BÁC SĨ THÚ Y
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hát xẩm xứ nghệ on THƠ MỚI CỦA LÊ HUY MẬU
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
Vũ Đức Thắng on NGUYỄN PHAN HÁCH VÀ TÔI
nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hội những người ko được giải là đây on CHÙM THƠ PHẠM ĐƯƠNG
V. Đ. on NGẪU HỨNG
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
ChâuDiên on CỬA LÒ QUÊ CHA
Văn Đức on CỬA LÒ QUÊ CHA
phạm hữu đăng đạt on THẾ HỆ TÔI, MỘT THẾ HỆ CÚI ĐẦU
VIỆT HƯNG on CỬA LÒ QUÊ CHA
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
Biển Đen on THỦ PHẠM
Tiến Hùng on THỦ PHẠM
Người VN Yêu Nước on THỦ PHẠM
Dinh Trung on THỦ PHẠM
Phạm Lưu Vũ on THỦ PHẠM
c on NHÂN DÂN
Văn Đức on CHIẾN TRANH
lanh thu on CHIẾN TRANH
vu vơ on CHIẾN TRANH
Lâm Tú on CHIẾN TRANH
Điện Hải 1858 on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Nguyễn Anh Hùng on CHIẾN TRANH
Thái Doãn Táo on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Bùi Thạch Hãn Cựu chiên binh on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Nguyễn Đức Giang on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
mayhong hồ tây hà nội on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
FAn của Boi on BẠC MỆNH MỘT TÀI HOA!
Nguyễn Xuân Lai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
nhà thơ Nguyễn Thị Mai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Ước mơ dân chủ công bằng on NGHĨ VỀ TRẢ LỜI VTV CỦA ÔNG NGUYỄN ĐÌNH LỘC
Cu Lon on THƠ MẠC MẠC
VIỆT HƯNG on NGÔN NGỮ MỚI
Bich Khe on NGÔN NGỮ MỚI
Nguyễn Xuân Lai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC LÀ NIỀM LẠC THÚ
Bà thành on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Vĩ Trung Ngân on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Đảng ta vĩ đại thật on MỘT BÀI HỌC TỪ PHẠM QUỲNH
nguoi ha noi on