Thứ Ba, Tháng Sáu 15, 2021
Home Chân dung VƯƠNG CƯỜNG - NGƯỜI CANH CHỪNG LÃNG QUÊN

VƯƠNG CƯỜNG – NGƯỜI CANH CHỪNG LÃNG QUÊN

Nhà thơ Vương Cường
Nhà thơ Vương Cường

NGUYỄN TRỌNG TẠO

Tài thơ phát ra từ mỗi người có khác nhau. Có người tài thơ phát ra từ nhỏ. Có người phát ra ở tuổi yêu. Lại có người phát ra khi đã qua kỳ trung niên hay lên lão… Giữ được khả năng sáng tạo thơ cũng mỗi người mỗi khác. Có người lóe lên rực rỡ như sao băng rồi vụt tắt. Có người sáng dần trên bầu trời đêm cho mãi đến rạng sáng mới thấy lấp lánh sao mai. Thậm chí có người tên nổi hơn thơ…

Vương Cường từng tâm sự với tôi: “Có lúc muốn làm thơ cho bay bổng mà sao nó cứ trì xuống”. Thì người ta vẫn nghĩ thơ là thăng hoa của tâm hồn. Bay bổng, lãng mạn, có cánh… trước Nàng Thơ là phải thôi, vì Nàng Thơ trong tâm thức mọi người là đẹp, là bí ẩn, là người tình của thi sĩ. Nhưng thơ đâu chỉ bay bổng mới hay. Thơ cũng như người vậy, có người rực rỡ lụa là, có người ba hoa bẻm mép, và cũng có người lặng thầm như đất, như sóng ngầm…

bài thơ "Mưa vùng giáp ranh" của Vương Cường in trên báo QĐND 1974.
bài thơ “Mưa vùng giáp ranh” của Vương Cường in trên báo QĐND 1974.

Tôi đọc thơ Vương Cường trên báo Quân đội khi anh mới hơn 20 tuổi. Bài thơ viết về một cơn mưa ở vùng giáp ranh tạm thời phân định hai chiến tuyến, nơi đang ấp lửa cho những trận đánh ác liệt sẽ xảy ra, nhưng tâm hồn người lính thì thật lãng mạn. Chính vì thế mà bài thơ của anh đã lay động tâm hồn người lính yêu thơ lúc ấy là tôi. Tôi đoán anh cũng xấp xỉ tuổi mình. Qua báo Quân đội, tôi lần được số hòm thư lính của Vương Cường, và tôi đã viết một lá thư gửi anh, khen bài thơ, rồi lưu giữ lại tờ báo ấy. Gần 30 năm sau, tôi gặp Vương Cường, anh vẫn nhớ đã nhận được lá thư tôi gửi với cảm giác khó tả; và khi được tôi tặng tờ báo có in bài thơ thuở nào thì anh đặc biệt bất ngờ. Thì ra Vương Cường vẫn làm thơ và anh đã in 2 tập thơ chững chạc: Bài hát đi tìm một ngườiĐám mây hình thiếu phụ.

Và giờ đây là tập Canh chừng lãng quên.

Bốn chữ “Canh chừng lãng quên” được rút từ bài thơ “Tôi mơ”, viết về những người lính hi sinh nơi Thành Cổ Quảng Trị, cũng là câu slogan trên blog Vương Cường (Tôi mơ thành chó đá/ Đứng canh chừng lãng quên). Chọn bốn chữ ấy đặt tên cho tập thơ đủ nói lên nỗi lòng đau đáu của tác giả về quá khứ hi sinh của người lính, của dân tộc này trong cuộc sống đầy ba động hôm nay và cả ngày mai.

Trước khi đọc bản thảo tập thơ này, tôi đã đọc kỹ 2 tập thơ của anh, và đọc những bài thơ mới anh đăng trên blog hoặc in báo. Vương Cường ngày càng viết thơ mang tính chiêm nghiệm hơn và cũng kỹ hơn. Có những bài thơ anh sửa đi sửa lại nhiều lần, thay chữ, đổi câu và thậm chí có bài anh tuyên bố: bỏ. Sự nghiêm túc cẩn trọng với thơ như vậy là một ý thức nghề-nghiệp đáng quý. Và tôi cảm thấy tập thơ mới của anh có “nặng” hơn về tình yêu và thân phận.

*

Không ai giao cho anh cái gánh nặng vết thương lòng, nhưng Vương Cường đã tự nguyện mang vác nó cho tới ngày chung cuộc. Thơ anh đầy ắp những vết thương chiến tranh, dù cỏ đã phủ xanh, anh vẫn không thể quên “những tiếng cười rỏ máu”, những “câu thơ bị thương/lấp lánh”… Đó không chỉ là cuộc chiến tranh đã qua nhưng chưa bao giờ ra khỏi chính anh, mà nó còn là một cuộc chiến khác về lòng tự hào và sự ăn năn của những người còn sống. Quả đúng vậy, thơ Vường Cường nhiều lần nhắc đi nhắc lại về sự hi sinh, những linh hồn sống, những nghĩa trang và những bóng ma luôn đào xới xoáy sâu vào cõi tâm linh thi sĩ. “Tôi mơ”, “Cõng bạn đi chơi”, “Đêm ngủ ở nghĩa trang Trường Sơn”, “Viết ở nghĩa trang Văn Điển”, “Những cặp mắt ấy vẫn nhìn tôi”, “Những con ma làng”… và đặc biệt là bài thơ “Người chết hai lần chưa trọn cuộc đi” đều là những tứ thơ độc đáo giàu sức lay động, neo giữ hồn người.

Ai đã nghe “Ngụ ngôn mùa đông” của Trịnh Công Sơn không thể quên sự ác nghiệt của chiến tranh qua câu hát “Một ngày mùa đông, trên con đường mòn, một chiếc xe tang, trái mìn nổ chậm, người chết hai lần, thịt da nát tan”. Vâng, người chết hai lần ở đây là người đã chết rồi nhưng thân xác lại bị mìn xé tan nát một lần nữa. Vương Cường lại bắt gặp một tứ thơ khác, đó là người còn sống đi đám tang vĩnh biệt cái chân của chính mình bị đạn bom cắt rời: “Anh thắp một nắm hương/Rải một ôm hoa dại/ Anh vái trời/ Anh vái đất / Anh khóc, trách phần cơ thể không chờ nhau”. Rồi đến lượt anh từ giã cõi đời: “người thân lượm anh bằng vải đỏ/ mặt đánh phấn/ cùng nằm bên anh/ là đôi nạng gỗ…/ người chết hai lần/ cuộc đi chưa trọn”.

Vẫn biết Chúa Giêsu cũng chết hai lần khi người lính La Mã đã đâm ngọn giáo vào Trái-Tim-Đã-Chết của Ngài, nhưng đọc bài thơ của Vương Cường ta thấy một nỗi xót thương vĩ đại mãi mãi tuôn trào khi người lính vĩnh biệt cuộc đời vẫn chưa cập được bến bờ mơ ước.

Cùng với nỗi lòng đau đáu về số phận những người đồng đội đã hy sinh, Vương Cường có một giấc mơ thật đặc biệt, một tứ thơ thật độc đáo: “Cõng bạn đi chơi”. Không phải cõng một người bạn thương binh mà cõng linh hồn của người chết không còn đôi chân, đi chơi sau khi cuộc chiến đã xa xăm. Cõng bạn đến nhà người yêu thì người yêu đã thành “bà già nhăn nheo, tóc bạc”. Cõng bạn đi thăm bố mẹ thì “bố mẹ đã ra gò mả… /hai nắm đất một thời biết khóc/ đêm đêm thả nước mắt vào mưa”. Cõng bạn vào bàn thờ thắp hương thì “lại gặp mình ngồi cười sau nải chuối”… Và đoạn kết là một nỗi đau xé lòng khi anh biết mình chỉ cõng một giấc mơ:

thôi mày về đi
cái thằng hai mươi tuổi
tao thương mày
mày chẳng biết thương tao…

Mac Arthur từng nói: “Người lính là người cầu nguyện cho hòa bình nhiều hơn bất cứ ai, bởi chính người lính là người phải chịu đựng và mang những vết thương chiến tranh nặng nề nhất”. Cái vết thương chiến tranh trong thơ Vương Cường tưởng không bao giờ thành sẹo: “Trong đáy mắt có vài vết sẹo/vết sẹo nước mắt bào không khô”, bởi vì “anh đã biết lặng im mà giông bão”.

Hình như cái lẽ sống trong chiến tranh đã trở thành một giá trị khát vọng để Vương Cường cân đong cuộc sống này. Một câu chuyện Thạch Sanh – Lý Thông cổ xưa cũng được anh nhìn nhận sâu xa về “một cây đàn, một cây đa muôn tuổi” bên cạnh “một tiếng sét và một con bọ hung muôn tuổi”. Một ngôi làng đổi thay trong thời đại công nghiệp cũng làm anh ngẩn ngơ khi “những con ma làng đi mất”, làm anh giật mình khi nhìn thấy “hồn làng ám khói đã từng mây bay”. Quả là tâm hồn thơ Vương Cường nhiều ngẩn ngơ, thảng thốt, hình như nó luôn bất an kể cả lúc bình an. Đó không phải là một tâm hồn hoài nghi vẩn vơ mà là một tâm hồn hoài nghi được tham chiếu của tư duy khoa học. Nó mang tính cảnh báo và dự báo. Đó là cái cảm giác “không ai bắn mình mà trái tim buôn buốt”…

*

Vương Cường không chỉ trăn trở về thực tiễn cuộc sống mà anh còn trăn trở nhiều về trách nhiệm của thơ, về nghệ thuật thơ. Đọc một số bài viết phê bình, nghiên cứu về thơ của Vương Cường, tôi thấy quan niệm của anh thường sâu sắc và mới mẻ. “Cái mới thường ẩn mình trong những câu hỏi từ thực tiễn. Thơ tham gia tr li bng cách ca thơ. Thơ vẫn có khả năng óng ả bay lên trên thực tiễn hoang tàn”. Với quan niệm ấy, người làm thơ phải vừa trả lời câu hỏi của thực tiễn cuộc sống, lại vừa phải trả lời câu hỏi tự lòng mình. Và anh đã nghiệm thấy: “Có câu thơ một đời không đọc hết/ có một đời không viết nổi câu thơ/ Bạn tôi chết không còn mẩu xác/ đất Cổ Thành cỏ chẳng bón mà xanh”. Những nỗi đau quặn thắt ấy không chỉ với người lính, mà còn với người chị bán hàng hoa nơi góc chợ:

Bàn tay khô
héo cả góc chợ buồn.

Những câu thơ buồn trĩu ấy, như không thể viết khác được.

Người làm thơ thường trọng cảm xúc. Nhưng cảm xúc lại nằm trong những “con chữ”. Vì vậy mà người ta nói “lao động thơ”, “nhà thơ là phu chữ” là nói đến sự coi trọng chữ nghĩa của thơ. Đọc Vương Cường, tôi nhận ra nhiều “con chữ” bất ngờ hiện lên không dễ dàng. “Mưa xóa đi kỷ niệm đang chạy”, “Em như gió đi không cần ngoảnh lại/ một mình anh ai ái với hồ ngây”… Những câu thơ như vậy thường níu người ta lại bởi những “con chữ” mang nhiều cảm giác.

Người nói thơ Vương Cường là “nỗi cô đơn minh triết” (Phan Chí Thắng); là “nỗi cô đơn đàn ông” (Võ Kim Ngân); là “tiếng gọi trong miền ảo” (Hà Linh), v.v… đều là một Vương Cường “đa tầng đa sắc đa phương” (Thuận Nghĩa). Nghĩa là thơ anh đã động đến trái tim của người đọc với nhiều góc độ khác nhau.

Gấp lại tập thơ “Canh chừng lãng quên”, tôi nhắm mắt lại và thấy Vương Cường đang đi trên cánh đồng chữ, ở đấy có máu xương, có cỏ xanh, hoa trái, có bình minh, hoàng hôn và bóng tối… Người thơ ấy lầm lũi đi tìm một cái gì đấy như là ký ức, như là thực tại, như là tương lai. Và anh đi lại gần tôi với cái bắt tay phát lửa ấm nồng. Đó là ngọn lửa phát ra từ những bài thơ mang đầy thân phận con người.

Hà Nội, tháng Bảy, 2016

Bài thơ của Vương Cường:
CÕNG BẠN ĐI CHƠI

Nằm giữa rừng sâu không tên
hay dưới đáy sông Thạch Hãn
úp mặt vào bùn
mày nhìn thấy gì đâu
đôi chân đứt lìa mấy đoạn
mày có đi được đâu.

Đêm đêm trăng lạc giọng trước hiên nhà
gió dật đùng đùng trong cơn điên dại
cái miệng mày bê bết máu
tao có ngủ được đâu.

Thức cõng mày đi mấy vòng cho đã
mày hăm hở đến nhà người yêu
gặp bà già nhăn nheo, tóc bạc
trong đáy mắt có vài vết sẹo
vết sẹo nước mắt bào không khô.

Mày nhảy chân chim chạy ùa tìm mẹ
cả bố mẹ mày đã ra gò mả
hai nắm đất lặng im
hai nắm đất một thời biết khóc
đêm đêm thả nước mắt vào mưa
thả cười vào gió
thả mong chờ vào hư vô.

Mày chạy vào bàn thờ thắp hương
lại gặp mình ngồi cười sau nải chuối.

Thôi mày về đi
cái thằng hai mươi tuổi
tao thương mày
mày chẳng biết thương tao…

RELATED ARTICLES

SINH NHẬT MÙA THU

NGUYỄN TRỌNG TẠO SINH NHẬT MÙA THU Tặng Em Ai giấu trong màu thu Bông cúc xanh tháng bảy Nhìn cánh hoa anh thấy Thu về cùng gió xanh Ai giấu...

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

BỐ VÀ CON

NGUYỄN TRỌNG TẠO Tặng con và bố Tú Con gọi nồng nàn tiếng bố Bố cưng gái rượu yêu kiều  Rồi con thành bà nội ngoại Bố mãi gọi...

1 COMMENT

  1. “Tôi mơ thành chó đá/ Đứng canh chừng lãng quên”

    Đúng . Chúng ta không thể nào quên những hy sinh không thể nào so sánh được . Chỉ với những hy sinh hào hùng, chúng ta mới có được chế độ tươi đẹp ngày hôm nay, một hiện thực đáng tự hào & 1 tương lai sán lạn .

    Không bao giờ quên, tôi tự hứa với lòng mình như thế .

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -

Most Popular

SINH NHẬT MÙA THU

NGUYỄN TRỌNG TẠO SINH NHẬT MÙA THU Tặng Em Ai giấu trong màu thu Bông cúc xanh tháng bảy Nhìn cánh hoa anh thấy Thu về cùng gió xanh Ai giấu...

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

BỐ VÀ CON

NGUYỄN TRỌNG TẠO Tặng con và bố Tú Con gọi nồng nàn tiếng bố Bố cưng gái rượu yêu kiều  Rồi con thành bà nội ngoại Bố mãi gọi...

KHI XÃ HỘI XUỐNG CẤP, NHÀ THƠ – NGƯỜI Ở ĐÂU?

NGUYỄN TRỌNG TẠO (Nguyễn Đức Tùng thực hiện) Nguyễn Đức Tùng: Rất vui được trò chuyện với anh Nguyễn Trọng Tạo, chàng thi sĩ lãng mạn...

Recent Comments

loctran on THỜI MẠT
Đào Nguyên Lan on THƠ NGUYỄN NGỌC VƯỢNG
tamnguyenxuan55gmail.com on 3 TẢN VĂN CỦA ĐẬU THỊ THƯƠNG
Vương on ĐẤT NƯỚC TÔI
Nguyễn Hoàng Sơn on NHÀ THƠ NGUYỄN DUY VỀ LÀNG
tu sinh on BA THẰNG BẠN
Nguyễn Thanh Cừ on TỔNG THỐNG
Trần Anh Dũng on THƠ ĐẶNG LƯU SAN
Nguyễn Ngọc Phong on “SUY NGẪM” CỦA LÊ THANH DŨNG
Hoàng Trí on NGỤM CHÁO LÚ
Trâu Hà Tĩnh on BA CÂU HỎI CHO HOÀNG HƯNG
sonnghithu@gmail.com on NGƯỜI VỀ TRƯỜNG SA
phamducquy on THƠ VÕ THANH AN
trần vũ long on THƠ VÕ THANH AN
Nguyễn Trường Sơn on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
TRẦN NHUỆ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Nguyễn Thanh Cừ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Lê Kinh Thắng - Tham tán Thương mại tại Nam Phi on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Lê Anh Phong - TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Nguyễn Thị Bích Lài - Đồng hương của hai người hiện ở TP. Pleiku - tỉnh Gialai – Pleiku. on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Phạm Đông on VĂN TẾ CÂY HÀ NỘI
Nguyễn Thanh Cừ on ĐỐI THOẠI VỚI LÝ QUANG DIỆU
Nguyễn Thanh Cừ on XIN ĐỪNG ĐỤNG VÀO CÂY…
Người lái đò on ĐANG SỐNG MÀ ĐÃ BẢO TÀNG…
Phan Thai Duc Hieu on THÂN PHỤ TÔI
THUYTANTHUYTRUONG on TUYẾT NGA
jamesnguyen on CON TUYẾT
jamesnguyen on KIẾP HÀI NHI
Khanh nguyen on NẾU NHƯ KHÔNG… NẾU
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Pham Tien Cat on NGUYỄN HOA VÀ THƠ
Anh Nguyên on CÁI ĐINH ỐC
Nguyễn Thanh Cừ (Hà Nội) on NGUYỄN TRỌNG TẠO HAY ÔNG “ĐỦ MÓN, 5 SAY”
phạm Dũng on SUY NGHĨ VỀ HÒA HỢP
Nguyễn Thị Long on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
nguyễn thị thanh minh on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on VĨNH BIỆT NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG SÁNG
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on KHÚC HÁT SÔNG QUÊ – BÀI CA CỦA MỌI NGƯỜI
Lâm Bích Thủy on THƠ VALENTINE 2014
Anh Nguyên on THƠ VALENTINE 2014
Pham Tuấn Thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguyễn Tiến Dũng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Phạm Trường Thi on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phạm tuấn thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguoi mien nui on QUYẾT LIỆT LÀ… TAN VỠ
Nguyễn Mộng Nhưng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phó thường dân on NGUY CƠ TỪ TRUNG QUỐC
thời đại khoa học on GẶP TƯỚNG GIÁP VÀ NGẪM VỀ NGƯỜI
Nỗi buồn hoa phượng on TRUYỆN CỰC NGẮN: BIẾU SÁCH
Gloomy 1721979 on KINH SÁCH CỦA NƯỚC VỆ
Dân gian: "Nhà văn nói láo, nhà báo nói phét" on NƯỚC ICELAND KÍNH TRỌNG NHẤT NGHỀ VIẾT VĂN
Hoạ sĩ Trần Thị Bích Huệ on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Huỳnh Văn Úc on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Van Duc on HOA MẠC TRẮNG
nguyễncamgiang@yahoo.com.vn on NHỮNG CÁI CHẾT TỨC TƯỞI CỦA NHÀ VĂN
Danh Hiếu on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Nhan Van on HỒI KÝ CA SĨ
Bà Ngoại on HỒI KÝ CA SĨ
Văn Nhân. on HỒI KÝ CA SĨ
Dungquy on HỒI KÝ CA SĨ
Người nhà quê on SUY NGẪM CỦA LÊ THANH DŨNG
nguyenvan on TÔI YÊU VIỆT NAM
Thanh Minh on TÔI YÊU VIỆT NAM
Hoàng Lãng Thụy on INRASARA BÌNH BÀI THƠ “CHIA”
Đỗ Cảnh Thìn on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
ANH NGUYỄN on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Nguyễn thanh Hà on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Thanh nien nghiem tuc on ĐẶNG HUY VĂN DẶN PHƯƠNG UYÊN
Hà quang Minh on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Trọng Hoàng on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Văn Nhân. on HỌC LÀM QUAN
vũ thảo on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on HỌC LÀM QUAN
Nguoi lam thue on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
nguyenvan on HỌC LÀM QUAN
GÀ QUÊ on HỌC LÀM QUAN
montaukmosquito on HỌC LÀM QUAN
Phạm Lưu Vũ on KHÔNG ĐỀ 72
Hạnh Nhung on KHÔNG ĐỀ 72
dinhqn on KHÔNG ĐỀ 72
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Khánh Minh on KHÔNG ĐỀ 72
Nhị Mai on KHÔNG ĐỀ 72
Bá Tiến on TUYẾT NGA
Thanh Minh on TUYẾT NGA
HOÀNG TRƯỜNG SA on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Gloomy 1721979 on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Thập tứ đại ngu. on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
mai thanh sơn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Hồ Muôn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
ANH NGUYỄN on LƯU MANH KẺ CHỢ
ANH NGUYỄN on CHÙM THƠ BIỂN
Thanh Minh on LƯU MANH KẺ CHỢ
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Vũ Xuân Tửu on LƯU MANH KẺ CHỢ
luong thien on LƯU MANH KẺ CHỢ
nguyenvan on LƯU MANH KẺ CHỢ
Phan Thế Thủy on LƯU MANH KẺ CHỢ
T. A. T on THÂN PHỤ TÔI
Lê văn Minh on THÂN PHỤ TÔI
Tô Lê Sơn on THÂN PHỤ TÔI
ANH NGUYỄN on SẮC DỤC
Đỗ Duy Văn on THÂN PHỤ TÔI
Lưu Đinh Anh on SẮC DỤC
hao hao on THÂN PHỤ TÔI
nguyenvan on 23 TẦNG NGƯỜI
Văn Trường Lưu on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Hoàng Văn Hoan on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Trần Thị Bích Huệ on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
nguyen van lung on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Ngô Văn Hải on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Phan Huy Vũ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Trần Thị Bích Huệ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Nguyễn Hữu Đức on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
Nguyễn Thị Chinh on VĂN CAO: TRƯƠNG CHI LÀ TÔI ĐẤY
Nguyen Van Nam on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
Thanh Minh on GIA PHONG XỨ NGHỆ
NGUYỄN VĂN ĐOÀN on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
LÒ LÃO NÔNG/NGUYỄN ĐỨC TOAN on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
(Vẫn là) Cháu ngoan Bác Hồ. on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
nguyễn văn Đức on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người nhà quê on GIA PHONG XỨ NGHỆ
Nguyễn Đắc Vinh on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Ngọc Rô on CÒN ĐÂU SÔNG NHUỆ NGÀY XƯA
Giời Ơi on GIA PHONG XỨ NGHỆ
T Nguyen on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Ha Dinh Van on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Muathuhanoi on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Người VN Yêu Nước on CỦA CE’SAR XIN TRẢ LẠI CHO CE’SAR
nguyenvan on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Nguyên on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Ông Đồ xứ Nghệ on HOÀNG SA LÀ ĐÂU HỞ NGOẠI?
Bác Hồ sống mãi trong sự cay đắng cùa chúng ta! on SỰ NHẦM LẪN LỜI CA “GỬI NGƯỜI EM GÁI MIỀN NAM”
mai ngoc on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Trịnh Công Tiến on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Khách qua đường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đỗ Duy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hà Văn Thịnh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Tăng Bá Hùng on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
trần cường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
phạm văn Lâm on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Hoàng on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hoàng Thiên Thanh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Gia đình Liệt sĩ chống Pháp, chống Mỹ on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
thiên đường XHCN on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Gia Linh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Trường Sơn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Văn An on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Nguyễn Văn An on MINH VƯƠNG
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
ANH NGUYỄN on THƠ XƯA CHƯA CŨ
Biết Tuốt on CHÂN DUNG PHÁC THẢO
Thanh Minh on TUYỆT THỰC
Công Trình on TRƯỜNG SA LÀNG TA
ĐoànhĐoành@ on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
Anh Hoa on TUYỆT THỰC
tù nhân lương tâm on TUYỆT THỰC
mai ngoc on TRƯỜNG SA LÀNG TA
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
kieuhung on TUYỆT THỰC
buncuoiwa on TUYỆT THỰC
Bà Ngoại on PHẠM DUY VÀ TỐ HỮU
Nguyễn Trường Sơn on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Khúc hát sông quê on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Cùng là người HN on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Văn Đức on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
Hoàng Xuân Thảo on THƠ CHO THIẾU NHI: CHÂN VÀ CÁNH
Hoàng Xuân Thảo on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
ĐoànhĐoành@ on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Trần Thường Kiệt on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Trần Thường Kiệt on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Cai nuoc minh no the on LỄ TANG ÔNG HỒ ĐỨC VIỆT
Công Luận on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Phạm Lưu Vũ on LIÊN HOAN THƠ TẠI PHÁP
Hoàng Khải on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
truclamthientruongy on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Móng Rồng on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trần Dân Đen on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trương Duy Nhì on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Hiên ngang, sáng ngời.... on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Triời mô xanh bằng trời Can Lộc on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Phạm Hồng Thái on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Người VN Yêu Nước on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Hồn Ma Võ Văn Kiệt on NGUYỄN KHOA ĐIỀM: SỰ TẦM THƯỜNG
HTvinh on SẮC DỤC
hát xẩm xứ nghệ on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on THƠ LÊ TUẤN LỘC
Nhân Văn Giai Phẩm on NGƯỜI MÊ VĂN HỌC BA LAN
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
D.Nhật Lệ on TÀI – TAI
3 Dê (tên tục Nguyễn Mười-Tạ Dũng, huý tự Nguyễn Chí Dũng) on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
park gil oung on ÁO LỤA VÀ HOA SEN
Người sông Tiền on VĨNH BIỆT NGƯỜI VỀ SÔNG TƯƠNG
Dương Diệu Minh on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
Phương Xa Ty on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
hát xẩm xứ nghệ on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Văn Đức on HUYỀN BÍ VÂN KIỀU
Lương Dũng Hà on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC THƠ LÊ THÁI SƠN
xuân thơm on TẠI SAO VIỆT NAM?
Tran Kim Phuong on CHUYỆN TẮM TIÊN
Văn Đức on DỊU DÀNG
Bà thành on CHUYỆN TẮM TIÊN
Khách qua đường on GẶP GỠ THÁNG TƯ
mai ngoc on C’EST LA VIE! (*)
Nguyễn Hữu Cường on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
PHƯƠNG NAM on 4 PHÚT TUYỆT VỜI
Bất công on C’EST LA VIE! (*)
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
nguyễn xuân on THƠ BÙI MAI HẠNH
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
Vinh on BÁC SĨ THÚ Y
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hát xẩm xứ nghệ on THƠ MỚI CỦA LÊ HUY MẬU
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
Vũ Đức Thắng on NGUYỄN PHAN HÁCH VÀ TÔI
nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hội những người ko được giải là đây on CHÙM THƠ PHẠM ĐƯƠNG
V. Đ. on NGẪU HỨNG
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
ChâuDiên on CỬA LÒ QUÊ CHA
Văn Đức on CỬA LÒ QUÊ CHA
phạm hữu đăng đạt on THẾ HỆ TÔI, MỘT THẾ HỆ CÚI ĐẦU
VIỆT HƯNG on CỬA LÒ QUÊ CHA
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
Biển Đen on THỦ PHẠM
Tiến Hùng on THỦ PHẠM
Người VN Yêu Nước on THỦ PHẠM
Dinh Trung on THỦ PHẠM
Phạm Lưu Vũ on THỦ PHẠM
c on NHÂN DÂN
Văn Đức on CHIẾN TRANH
lanh thu on CHIẾN TRANH
vu vơ on CHIẾN TRANH
Lâm Tú on CHIẾN TRANH
Điện Hải 1858 on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Nguyễn Anh Hùng on CHIẾN TRANH
Thái Doãn Táo on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Bùi Thạch Hãn Cựu chiên binh on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Nguyễn Đức Giang on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
mayhong hồ tây hà nội on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
FAn của Boi on BẠC MỆNH MỘT TÀI HOA!
Nguyễn Xuân Lai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
nhà thơ Nguyễn Thị Mai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Ước mơ dân chủ công bằng on NGHĨ VỀ TRẢ LỜI VTV CỦA ÔNG NGUYỄN ĐÌNH LỘC
Cu Lon on THƠ MẠC MẠC
VIỆT HƯNG on NGÔN NGỮ MỚI
Bich Khe on NGÔN NGỮ MỚI
Nguyễn Xuân Lai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC LÀ NIỀM LẠC THÚ
Bà thành on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Vĩ Trung Ngân on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Đảng ta vĩ đại thật on MỘT BÀI HỌC TỪ PHẠM QUỲNH
108 anh hùng lương sơn bạc on BA SÀM ƠI, NGƯƠI Ở ĐÂU?
108 anh hùng lương sơn bạc on BLOG BA SÀM LẠI BỊ CƯỚP VÀ BỊ XUYÊN TẠC
Nguyễn Đức Tùng on DU TỬ LÊ GIỚI THIỆU TRỊNH SƠN
Phương Xa Ty on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Nguyễn Trường Sơn on CÔNG AN KHÔNG ĐỨNG TRÊN LUẬT
hoanganh lam on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
batrioldman on DILI ADAM & EVA