Thứ Sáu, Tháng Sáu 18, 2021
Home Bài của bạn XUNG QUANH CÂU CHUYỆN TÁC PHẨM ĐỈNH CAO

XUNG QUANH CÂU CHUYỆN TÁC PHẨM ĐỈNH CAO

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân
Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân

LẠI NGUYÊN ÂN trả lời phóng viên báo Đại Đoàn Kết (bản gốc do LNA gửi NTT)

13h06 ngày 28/11/2013, phóng viên NGUYỄN THANH BÌNH của báo ĐẠI ĐOÀN KẾT gửi qua thư điện tử các câu hỏi phỏng vấn xung quanh vấn đề làm gì để có những tác phẩm đỉnh cao. 18h07 cùng ngày, tôi gửi lại phóng viên bài trả lời. Toàn bài như sau.

A/ Các câu hỏi 1&2: 

1. Thưa, ông là một nhà nghiên cứu phê bình văn học lâu năm, thế nào là một “tác phẩm nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao”?

2.Vậy ông có cho rằng nền văn học nghệ thuật hiện nay vẫn đang thiếu vắng những tác phẩm đỉnh cao không?

LẠI NGUYÊN ÂN: Thông thường, người ta chỉ có khái niệm tác phẩm có giá trị; mức độ giá trị có thể là xuất sắc, có thể là kiệt tác; ở kiệt tác có tất cả, tư tưởng cao, nghệ thuật cao. Còn khái niệm “tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao” là khái niệm mang tính song đề, tự phía chủ quan những người đề ra khái niệm ấy có thể đã và sẽ phải tự cãi vã bất phân thắng bại giữa hai thuộc tính “giá trị tư tưởng” và “giá trị nghệ thuật”. 

Theo tôi, ở những xã hội khôn ngoan người ta có những lối đo đạc khá tinh ranh – chấp nhận độ “tương đối” rất rộng về giá trị – đối với các tác phẩm, từ lúc mới xuất hiện đến suốt về sau. Người ta có thể chấp nhận nhiều phép thử, nhiều kiểu vinh danh đối với các tác phẩm ấy, như các thứ giải thưởng khác nhau, của những tổ chức khác nhau, từ những giám khảo quần chúng đến những giám khảo chuyên gia; lại thêm những thước đo như số lần và số bản in, số bản dịch, số ngôn ngữ được dịch, phạm vi ảnh hưởng, v.v… Rồi thì qua thời gian, tính bằng trăm năm, những tuổi tên lớn, tác phẩm lớn sẽ lộ ra dần dần; nhưng ngay khi đã lộ rõ phẩm chất của kiệt tác, nó có thể vẫn bị những bộ phận công chúng hay chuyên gia nhất định chê bôi, cho là thiếu toàn bích… Như bộ truyện Đi tìm thời gian đã mất của văn hào Pháp Marcel Proust là trường hợp mới đây thường được nhắc đến, nhân 100 từ lúc xuất bản tập sách đầu tiên (1913), chẳng hạn.

Cách làm “tương đối” nói trên rất khác với những lối làm in rõ dấu ấn duy ý chí, lấy thước đo của những giới hẹp trong thời gian ngắn nào đó để xác quyết tác phẩm thế này thế kia là “có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao”; kết quả của lối làm này chỉ xác nhận tầm hữu hạn nhất thời của những thị hiếu, những thiện cảm, những định kiến, chứ không tiên lượng được sức sống của tác phẩm trong chiều dài lịch sử của nhiều không gian sống, nhiều đời người.

Thế thì hiện tại ở văn nghệ Việt Nam có đang thiếu vắng những tác phẩm đỉnh cao không? Câu trả lời của tôi là có và không! Bởi tác phẩm đỉnh cao (xuất sắc, kiệt tác) là kết quả lựa chọn, lắng đọng của thời gian hàng trăm năm, chứ không phải kết quả sự bầu chọn ngay tức khắc. Ta chưa thể biết trong vô số tác phẩm văn nghệ xuất hiện trong vòng dăm chục năm nay của các tác giả Việt Nam có hay không có những kiệt tác!

Ta đang sống ở thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, ai nấy đều thấy rõ, chỉ trong vòng vài chục năm trở lại đây, chúng ta mới xác nhận được một vài kiệt tác văn học người Việt thế kỷ XX, ví dụ về văn xuôi thể truyện, là Số Đỏ (1936, truyện dài của Vũ Trọng Phụng) và Chí Phèo (1941, truyện ngắn của Nam Cao). Vậy là từ sau khi các tác phẩm này xuất hiện, phải mất chừng 50 – 60 năm, giá trị đỉnh cao của chúng mới được xác nhận. Thế thì làm sao ta đã có thể nhận định về tầm giá trị những tác phẩm xuất hiện gần ta hơn?

B/ Các câu hỏi 3&4&5:

3. Nếu có, thì theo ông, đâu là những nguyên nhân?

4. Có ý kiến cho rằng, một nguyên nhân khá quan trọng, đó chính là vai trò của các nhà phê bình. Một nền phê bình ngại va chạm, thiếu sự dấn thân, một nền phê bình “bốc thơm”, thì không phải là môi trường để nảy sinh các tác phẩm đỉnh cao. Ý kiến của ông thế nào?

5. Thế còn nguyên nhân là các chế độ đãi ngộ văn nghệ sĩ, nhiều người cũng cho đó là nguyên nhân dẫn đến việc chưa có tác phẩm hay. Nhưng ngày xưa, nào có chế độ đãi ngộ gì mà chúng ta vẫn có Truyện Kiều? 

LẠI NGUYÊN ÂN: Nếu chưa thể xác quyết trong văn nghệ (hoặc hẹp hơn: văn học) của ta vài ba chục năm gần đây có hay không có những tác phẩm đỉnh cao, thì, về nguyên tắc, càng chưa thể bàn đến nguyên nhân. Song ở đây, nhân câu hỏi của bạn, cũng có thể bàn đến sự ảnh hưởng thuận lợi hay không đến sự sáng tạo của văn nghệ sĩ, từ phía hoạt động phê bình, và từ phía chế độ đãi ngộ.

Theo tôi, trong đời sống gần đây, hoạt động phê bình trên báo chí vừa có phần đáng ngại, lại vừa có chỗ khả thủ.

Điều khả thủ là ở khu vực hẹp của giới phê bình nghiên cứu “hàn lâm”, ở đó những nền nếp ít nhiều bài bản đang được xác lập trở lại; nét đáng khích lệ nhất là khu vực này đang thấy rõ nỗ lực tiếp cận các chuẩn thế giới, nhưng tiếc là chính nó lại ít tác động được đến đời sống văn nghệ trong nước.

Điều đáng ngại là ở khu vực phê bình văn nghệ trên báo chí, ở đó những bài điểm tác phẩm, điểm vở diễn, giới thiệu nghệ sĩ, v.v… đang xoay theo phục vụ các nhóm lợi ích lớn hoặc nhỏ, thay vì phải xét đoán khách quan, nhân danh các chuẩn mực cao nhất về giá trị. Xu thế này khiến phê bình đánh mất sự tin cậy của công chúng. Nhưng tình trạng này lại chỉ nên xem là kết quả sự lan tràn tình trạng bất công, bất bình đẳng đang xảy ra ở xã hội ta, sau một quá trình phát triển kinh tế xã hội, khi nhiều loại “luật rừng” đã trở lại trong sự cạnh tranh; từ lợi ích kinh tế, những cạnh tranh rừng rú cũng đang chi phối sự phát triển không ít loại hình văn nghệ.

Chế độ đãi ngộ cũng đang rất có vấn đề, khi mà mặt bằng để định giá thù lao, nhuận bút đã khá lạc hậu so với thực tế; trong khi đó, những quy phạm pháp luật để quản lý các loại hình hoạt động văn nghệ (như xung quanh việc bảo vệ tác quyền) và bộ máy thực thi chúng đều còn quá nhiều khiếm khuyết, lạc hậu. Chúng ta duy trì quá lâu các hệ thống hội đoàn văn nghệ có từ thời bao cấp, vốn nặng tính hành chính, không khuyến khích sự sáng tạo và người sáng tạo; cho đến nay, những ảnh hưởng tiêu cực của hệ thống hội đoàn bao cấp – mang nặng tính chất nhà nước hóa và tính độc quyền – thậm chí vẫn còn chưa được nhận rõ để vượt qua. Sau những năm dài bao cấp, một thị trường nghệ thuật chỉ mới vừa hình thành ở một vài ngành, trong từng công đoạn, lại bị méo mó do những ảnh hưởng kiểu nhóm lợi ích, đan chéo với những hệ lụy bao cấp chưa được khắc phục, – đó, theo tôi là những rào cản cho sự phát triển nghệ thuật, cho sáng tạo văn nghệ hiện nay.

Nếu nói đến Truyện Kiều thì cần nhận rằng tác phẩm ấy là sản phẩm của một thời đại khác. Khi khác sẽ nên bàn về đề tài ấy.

Bây giờ ta nên bàn về chính chuyện bây giờ.

Cho tôi hỏi bạn: nếu ta đã có những tác phẩm đỉnh cao rồi nhưng chính chúng ta lại chưa thừa nhận thì sao?

Tôi nên hai trường hợp.

Trường hợp thứ nhất. Năm 1990 xuất hiện tiểu thuyết Thân phận tình yêu (tức Nỗi buồn chiến tranh) của Bảo Ninh, ngay sau đó giá trị của tác phẩm này được xác nhận bằng giải thưởng chính thức của Hội nhà văn Việt Nam. Thế nhưng cũng chỉ sau đó ít lâu, cuốn truyện này trở thành đề tài phê phán của nhiều tờ báo quyền uy, đến nỗi một số thành viên từng bỏ phiếu trao giải cho nó cũng quay ra mạt sát giá trị của nó. Và từ đó nó hầu như bị cấm tái bản (tất nhiên là ngấm ngầm). Nhưng rồi cuốn truyện được dịch in ở nhiều nước Âu Mỹ, được dư luận nước ngoài khen ngợi. Trong “thế giới phẳng” này, tiếng khen ấy rồi cũng lọt lên báo chí trong nước, từ chỗ khẽ khàng đến chỗ công nhiên. Đến năm 2005, sách lại được in trong nước, và từ đó được tái bản không ít lần. Tuy vậy, có thể nói, chưa bao giờ dư luận chính thống tỏ rõ sự thừa nhận sòng phẳng giá trị tác phẩm này, nhất là phương diện gọi là “nội dung tư tưởng” của nó. Đây có thể gọi là tác phẩm mà dư luận chính thống ở ta vẫn chưa thể “tiêu hóa” được. Đây có phải một kiệt tác không? Rõ ràng đây là tác phẩm xuất sắc, xuất chúng, nhưng có là kiệt tác không, thì còn chờ thời gian.

Từ trường hợp này suy ra, phải chăng, ở ta, tác phẩm sẽ có thể trở nên lớn hay không, trước tiên phải xem nó có từng bị dư luận chính thống không chịu đựng nổi hay không? Nói khác đi, dư luận chính thống không chịu đựng nổi – đó phải chăng là điều kiện cần của tác phẩm lớn?

Trường hợp thứ hai. Cuốn Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn. Được in ra năm 2000, nó lập tức bị cấm. Bộ trưởng văn hóa khi ấy, ông Nguyễn Khoa Điềm, đã ra quyết định hủy toàn bộ số sách đã in. Nhưng trong xã hội, cái gì bị cấm thường được người ta tìm kiếm, do vậy công chúng vẫn biết đến nó, vẫn đọc được nó. Rồi cuốn truyện được in ở nước ngoài, gần đây được dịch ở Pháp. Và ngay từ khi xuất hiện, tác phẩm này luôn được đánh giá cao; người ta so đọ, trong những hoàn cảnh tương tự nhau, nếu ở Nga có GULAG thì Việt Nam có Chuyện kể năm 2000. Tất nhiên cho đến nay, cuốn truyện vẫn chưa được in lại và lưu hành ở trong nước. Song, giá trị của nó thì đang được xác nhận; thậm chí lịch sử càng lùi xa thì giá trị ghi nhận thời đại của nó càng được xác nhận.

Từ trường hợp này suy ra, phải chăng ở ta, tác phẩm sẽ có thể trở nên lớn hay không, trước tiên phải xem nó có bị xã hội chính thống loại trừ hay không? Một thứ điều kiện cần, nhưng có thể vẫn chưa đủ?

C/ Câu hỏi 6:

6. Phải chăng chúng ta thiếu vắng tài năng, thưa ông? Hay chúng ta thiếu cơ chế đầu tư phát triển và giữ chân tài năng thưa ông? 

LẠI NGUYÊN ÂN: Tôi không nghĩ là chúng ta thiếu tài năng. Tôi nghiệm ra rằng, các thế hệ người Việt, thế hệ nào cũng sẽ làm nên thành tựu của mình.

Tất nhiên mức độ đóng góp của mỗi thế hệ vào sự phát triển từng lĩnh vực văn hóa xã hội của đất nước là khác nhau. Thế hệ ra đời cách nay chừng 100 năm, do tiếp nhận một thay đổi căn bản về hệ hình văn hóa, đã làm nên một thời đại mới trong văn học Việt Nam, với thơ mới, kịch nói, văn tiểu thuyết và văn bình luận, đưa văn nghệ Việt Nam vào thời hiện đại.

Cũng có thế hệ chịu thiệt thòi, như thế hệ tôi, ra đời cách nay trên 60 năm, gần như bị méo mó và bần cùng hóa về nguồn tri thức xã hội nhân văn, nên sự đóng góp rõ ràng là bị hạn chế, tuy cũng có những đại diện của mình trong sáng tạo văn nghệ.

Còn các thế hệ ra đời trong vòng vài ba chục năm nay, họ đã có điều kiện mở rộng tầm hiểu biết, sự xúc tiếp rộng hơn hẳn. Tôi không tin là sức sáng tạo của họ không dồi dào.

Còn về sự đầu tư, thì tôi nghĩ cũng có vấn đề, liên quan đến hệ thống hội đoàn văn nghệ mang nặng tính chất nhà nước hóa và tính độc quyền kể trên. Trong khi đó, sự đầu tư lớn nhất, đáng mong muốn nhất, theo tôi là ở việc tạo ra môi trường xã hội dân chủ rộng rãi, vì đó mới là điều kiện đích thực của tự do sáng tác. Văn nghệ sĩ là con người sống giữa xã hội. Chỉ khi điều kiện xã hội hoàn toàn tự do để anh ta có thể công bố tất cả những gì mình sáng tác ra mà không ngại bất cứ sự cấm đoán hay trừng phạt nào, thì đó mới là sự đầu tư lớn nhất.

D/ Câu hỏi 7:

7. Trong một lần trò chuyện với chúng tôi, GS Phong Lê có nói đại ý rằng, ông không nhìn thấy “tín hiệu” gì nữa từ những nhà văn đương thời. Cõ lẽ phải chờ mươi, thậm chí vài chục năm nữa, may ra… Còn nhà phê bình Lại Nguyên Ân thì có bi quan như vậy không?

LẠI NGUYÊN ÂN: Tôi không bi quan về thế hệ đang bước vào tuổi sáng tác sung sức.

E/ Câu hỏi 8:

8. Một cách ngắn gọn nhất, thưa ông, chúng ta cần làm gì để chúng ta có những tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao? 

LẠI NGUYÊN ÂN: Để ta có những tác phẩm đỉnh cao, chúng ta cần tạo ra một xã hội dân chủ, đảm bảo hoàn toàn việc tự do sáng tác và công bố tác phẩm. Hãy tin rằng: những tác phẩm kém cỏi sẽ nhanh chóng bị thời gian loại bỏ, chẳng cần mất công sức cấm đoán; còn những tác phẩm có giá trị thì sẽ luôn luôn có khả năng trở về với xã hội với con người, dù có bị ngăn trở ra sao./.

RELATED ARTICLES

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

KHI XÃ HỘI XUỐNG CẤP, NHÀ THƠ – NGƯỜI Ở ĐÂU?

NGUYỄN TRỌNG TẠO (Nguyễn Đức Tùng thực hiện) Nguyễn Đức Tùng: Rất vui được trò chuyện với anh Nguyễn Trọng Tạo, chàng thi sĩ lãng mạn...

Mà đời vẫn say, mà hồn vẫn gió…

NGUYỄN VIỆT CHIỄN Ngày ấy mà Tạo đã thân với Hoàng Cầm, Văn Cao làm tôi choáng, tôi bái phục. Đi chơi với Tạo, tức...

3 COMMENTS

  1. Các nhà văn CS muốn có tác phẩm đỉnh cao trí tuệ thì phải đọc:
    Báo NHÂN DÂN
    Chủ nhật, ngày 18-5-1958, trang 3
    Đấu tranh vạch mặt bọn phá hoại “Nhân văn – Giai phẩm”

    NHỮNG NGƯỜI TRÍ THỨC TRUNG THỰC LÊN TIẾNG

    LTS: Nhóm Nhân văn – Giai phẩm không phải chỉ là một bọn văn nghệ sĩ có tư tưởng chống đối với chế độ, với Đảng lãnh đạo, mà còn là một bọn phá hoại chính trị đã hành động phản lại quyền lợi của Tổ quốc, của nhân dân trong giải đoạn cách mạng tiến lên chủ nghĩa xã hội.

    Cuộc đấu tranh vạch mặt chúng là một cuộc đấu tranh cần thiết không những cho sự phát triển nền văn hóa mới, mà cho cả công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và thống nhất đất nước của nhân dân ta.

    Bởi vậy, tất cả những người yêu nước, đều nhất trí lên án bọn phá hoại này và những người trung thực trong giới trí thức Việt Nam đều tỏ rõ thái độ nghiêm khắc đối với chúng.

    Trước tư tưởng và hành động xấu xa của bọn phá hoại cùng những tác hại nghiêm trọng mọi mặt do chúng gây nên, nhiều bạn trí thức ở các ngành khoa học và văn hóa nước ta đã không thể nào không lên tiếng.

    Chúng tôi sẽ lần lượt đăng trên mặt báo này, những ý kiến mà những bạn trí thức đó đã phát biểu.

    Bác sĩ Hồ Đắc Di: “BẢO VỆ SỰ TRONG SÁNG CỦA TINH THẦN YÊU NƯỚC CHÂN CHÍNH XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”

    Nhóm Nhân văn – Giai phẩm đã dựa vào văn nghệ và bắt đầu từ văn nghệ để hoạt động chính trị chống đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Cho nên, nhóm Nhân văn – Giai phẩm cũng đã lấy Trường đại học làm một địa bàn hoạt động chính và muốn biến Trường đại học thành một “boong-ke” chống đối trên lĩnh vực văn hóa, khoa học và từ đó sang chính trị.

    Dưới nhiều hình thức: giảng dạy công khai, viết báo, diễn đàn tự do, tổ chức vây cánh v.v… Họ đã thực tế làm ảnh hưởng đến một số giáo sư, cán bộ, sinh viên. Do đó thực tế đã gây hại không nhỏ. Chỉ nói một điểm quan trọng nhất là họ đã làm sứt mẻ truyền thống đoàn kết nhất trí, gây chia rẽ, mâu thuẫn giữa giáo sư, sinh viên, cán bộ. Như vậy để làm suy yếu lực lượng vững chắc của nền khoa học hiện đại, đánh lạc hướng đào tạo cán bộ phục vụ cho công cuộc xây dựng Tổ quốc tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất Bắc Nam trên cơ sở độc lập và dân chủ. Họ đã hòng làm phai mờ tinh thần yêu nước trong sáng chân chính xã hội chủ nghĩa của các cán bộ đã bao lâu nay, từ trong kháng chiến gian khổ đã tận tụy phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân trên lĩnh vực văn hóa, khoa học, dưới lá cờ của chủ nghĩa Mác Lê-nin chân chính.

    Cho nên cuộc đấu tranh vạch trần nhóm Nhân văn – Giai phẩm, không những trong lĩnh vực văn nghệ mà cả ở Đại học, không những về quan niệm văn nghệ, học thuật mà cả trên lĩnh vực chính trị, có một ý nghĩa sâu sắc.

    Đối với Trường đại học, với giáo dục lý luận, đào tạo cán bộ ngày mai cho xã hội mới, vạch trần các khuynh hướng, quan điểm ngụy trá của chủ nghĩa xét lại, đó là bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác Lê-nin, đó cũng là bảo vệ sự đoàn kết nhất trí giữa giáo sư, cán bộ, sinh viên trong một tổ chức văn hóa, khoa học tiến triển của miền Bắc dân chủ nhân dân. Và đó cũng là bảo vệ sự trong sáng của tinh thần yêu nước chân chính xã hội chủ nghĩa của các cán bộ trí thức, khoa học đã hy sinh tất cả cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Cuộc đấu tranh đó thực tế đã đem lại nhiều kết quả cụ thể rất tốt. Việc giảng dạy, học tập được nghiêm chỉnh hơn, không khí dân chủ nhưng có tổ chức được khôi phục lại. Tinh thần đoàn kết thực sự để phục vụ cách mạng giữa trong và ngoài Đảng, giữa trí thức mới và trí thức cũ, giữa giáo sư, cán bộ và sinh viên cũng được khôi phục lại.

    Tóm lại, một bầu không khí lành mạnh sống lại ở các Trường đại học. Đó là một kết quả không nhỏ của cuộc đấu tranh vạch trần nhóm Nhân văn – Giai phẩm. Và đó cũng là nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt, kịp thời của Đảng và tinh thần giác ngộ cách mạng vững chắc của tối đại đa số cán bộ phục vụ trong ngành đại học./.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -

Most Popular

SINH NHẬT MÙA THU

NGUYỄN TRỌNG TẠO SINH NHẬT MÙA THU Tặng Em Ai giấu trong màu thu Bông cúc xanh tháng bảy Nhìn cánh hoa anh thấy Thu về cùng gió xanh Ai giấu...

Văn Cầm Hải: Ở Việt Nam, số lượng nhà văn giỏi ngoại ngữ quá hiếm hoi

VĂN CẦM HẢI Mới đây, Văn Cầm Hải được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia Chương trình viết văn Quốc tế 2005 (International Writing...

BỐ VÀ CON

NGUYỄN TRỌNG TẠO Tặng con và bố Tú Con gọi nồng nàn tiếng bố Bố cưng gái rượu yêu kiều  Rồi con thành bà nội ngoại Bố mãi gọi...

KHI XÃ HỘI XUỐNG CẤP, NHÀ THƠ – NGƯỜI Ở ĐÂU?

NGUYỄN TRỌNG TẠO (Nguyễn Đức Tùng thực hiện) Nguyễn Đức Tùng: Rất vui được trò chuyện với anh Nguyễn Trọng Tạo, chàng thi sĩ lãng mạn...

Recent Comments

loctran on THỜI MẠT
Đào Nguyên Lan on THƠ NGUYỄN NGỌC VƯỢNG
tamnguyenxuan55gmail.com on 3 TẢN VĂN CỦA ĐẬU THỊ THƯƠNG
Vương on ĐẤT NƯỚC TÔI
Nguyễn Hoàng Sơn on NHÀ THƠ NGUYỄN DUY VỀ LÀNG
tu sinh on BA THẰNG BẠN
Nguyễn Thanh Cừ on TỔNG THỐNG
Trần Anh Dũng on THƠ ĐẶNG LƯU SAN
Nguyễn Ngọc Phong on “SUY NGẪM” CỦA LÊ THANH DŨNG
Hoàng Trí on NGỤM CHÁO LÚ
Trâu Hà Tĩnh on BA CÂU HỎI CHO HOÀNG HƯNG
sonnghithu@gmail.com on NGƯỜI VỀ TRƯỜNG SA
phamducquy on THƠ VÕ THANH AN
trần vũ long on THƠ VÕ THANH AN
Nguyễn Trường Sơn on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
TRẦN NHUỆ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Nguyễn Thanh Cừ on DƯỚI BÓNG CÂY XANH
Lê Kinh Thắng - Tham tán Thương mại tại Nam Phi on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Lê Anh Phong - TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Nguyễn Thị Bích Lài - Đồng hương của hai người hiện ở TP. Pleiku - tỉnh Gialai – Pleiku. on CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
Phạm Đông on VĂN TẾ CÂY HÀ NỘI
Nguyễn Thanh Cừ on ĐỐI THOẠI VỚI LÝ QUANG DIỆU
Nguyễn Thanh Cừ on XIN ĐỪNG ĐỤNG VÀO CÂY…
Người lái đò on ĐANG SỐNG MÀ ĐÃ BẢO TÀNG…
Phan Thai Duc Hieu on THÂN PHỤ TÔI
THUYTANTHUYTRUONG on TUYẾT NGA
jamesnguyen on CON TUYẾT
jamesnguyen on KIẾP HÀI NHI
Khanh nguyen on NẾU NHƯ KHÔNG… NẾU
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Người Nha Trang on LỜI NGUYỀN CỦA BIỂN
Pham Tien Cat on NGUYỄN HOA VÀ THƠ
Anh Nguyên on CÁI ĐINH ỐC
Nguyễn Thanh Cừ (Hà Nội) on NGUYỄN TRỌNG TẠO HAY ÔNG “ĐỦ MÓN, 5 SAY”
phạm Dũng on SUY NGHĨ VỀ HÒA HỢP
Nguyễn Thị Long on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
nguyễn thị thanh minh on KHOẢNG TRỐNG KHÔNG LẤP ĐẦY
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on VĨNH BIỆT NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG SÁNG
Nhà giáo Nguyễn Hữu Duyến. on KHÚC HÁT SÔNG QUÊ – BÀI CA CỦA MỌI NGƯỜI
Lâm Bích Thủy on THƠ VALENTINE 2014
Anh Nguyên on THƠ VALENTINE 2014
Pham Tuấn Thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguyễn Tiến Dũng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Phạm Trường Thi on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phạm tuấn thọ on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
Nguoi mien nui on QUYẾT LIỆT LÀ… TAN VỠ
Nguyễn Mộng Nhưng on NGHỆ THUẬT TÌNH THƯƠNG
phó thường dân on NGUY CƠ TỪ TRUNG QUỐC
thời đại khoa học on GẶP TƯỚNG GIÁP VÀ NGẪM VỀ NGƯỜI
Nỗi buồn hoa phượng on TRUYỆN CỰC NGẮN: BIẾU SÁCH
Gloomy 1721979 on KINH SÁCH CỦA NƯỚC VỆ
Dân gian: "Nhà văn nói láo, nhà báo nói phét" on NƯỚC ICELAND KÍNH TRỌNG NHẤT NGHỀ VIẾT VĂN
Hoạ sĩ Trần Thị Bích Huệ on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Huỳnh Văn Úc on BÁC NGỦ NGON KHÔNG?
Van Duc on HOA MẠC TRẮNG
nguyễncamgiang@yahoo.com.vn on NHỮNG CÁI CHẾT TỨC TƯỞI CỦA NHÀ VĂN
Danh Hiếu on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Nhan Van on HỒI KÝ CA SĨ
Bà Ngoại on HỒI KÝ CA SĨ
Văn Nhân. on HỒI KÝ CA SĨ
Dungquy on HỒI KÝ CA SĨ
Người nhà quê on SUY NGẪM CỦA LÊ THANH DŨNG
nguyenvan on TÔI YÊU VIỆT NAM
Thanh Minh on TÔI YÊU VIỆT NAM
Hoàng Lãng Thụy on INRASARA BÌNH BÀI THƠ “CHIA”
Đỗ Cảnh Thìn on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
ANH NGUYỄN on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Nguyễn thanh Hà on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Thanh nien nghiem tuc on ĐẶNG HUY VĂN DẶN PHƯƠNG UYÊN
Hà quang Minh on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Trọng Hoàng on VU LAN – NGÀY TẠ MẸ
Văn Nhân. on HỌC LÀM QUAN
vũ thảo on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on KHÔNG ĐỀ 72
Quyen on HỌC LÀM QUAN
Nguoi lam thue on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
nguyenvan on HỌC LÀM QUAN
GÀ QUÊ on HỌC LÀM QUAN
montaukmosquito on HỌC LÀM QUAN
Phạm Lưu Vũ on KHÔNG ĐỀ 72
Hạnh Nhung on KHÔNG ĐỀ 72
dinhqn on KHÔNG ĐỀ 72
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Khánh Minh on KHÔNG ĐỀ 72
Nhị Mai on KHÔNG ĐỀ 72
Bá Tiến on TUYẾT NGA
Thanh Minh on TUYẾT NGA
HOÀNG TRƯỜNG SA on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Gloomy 1721979 on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
Thập tứ đại ngu. on HAI BỨC ẢNH TỪ CHINA
mai thanh sơn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
Hồ Muôn on ĐI TÌM MỘT NHÀ THƠ
ANH NGUYỄN on LƯU MANH KẺ CHỢ
ANH NGUYỄN on CHÙM THƠ BIỂN
Thanh Minh on LƯU MANH KẺ CHỢ
hoang anh on LƯU MANH KẺ CHỢ
Vũ Xuân Tửu on LƯU MANH KẺ CHỢ
luong thien on LƯU MANH KẺ CHỢ
nguyenvan on LƯU MANH KẺ CHỢ
Phan Thế Thủy on LƯU MANH KẺ CHỢ
T. A. T on THÂN PHỤ TÔI
Lê văn Minh on THÂN PHỤ TÔI
Tô Lê Sơn on THÂN PHỤ TÔI
ANH NGUYỄN on SẮC DỤC
Đỗ Duy Văn on THÂN PHỤ TÔI
Lưu Đinh Anh on SẮC DỤC
hao hao on THÂN PHỤ TÔI
nguyenvan on 23 TẦNG NGƯỜI
Văn Trường Lưu on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Hoàng Văn Hoan on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Trần Thị Bích Huệ on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
nguyen van lung on CÁI ĐUÔI TÔN NGỘ KHÔNG
Ngô Văn Hải on CHUYỆN BÁ NHA – TỬ KỲ
Phan Huy Vũ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Trần Thị Bích Huệ on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Nguyễn Hữu Đức on LÂM HỒNG TÚ: LỤC BÁT BỐN MÙA
Nguyễn Thị Chinh on VĂN CAO: TRƯƠNG CHI LÀ TÔI ĐẤY
Nguyen Van Nam on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
Thanh Minh on GIA PHONG XỨ NGHỆ
NGUYỄN VĂN ĐOÀN on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
LÒ LÃO NÔNG/NGUYỄN ĐỨC TOAN on THÔNG TIN THẬT VÀ GIẢ?
(Vẫn là) Cháu ngoan Bác Hồ. on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
nguyễn văn Đức on LỜI NÀO CỦA TRỊNH CÔNG SƠN?
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người VN Yêu Nước on NGHE ĐIỆN THOẠI OSIN HUY ĐỨC
Người nhà quê on GIA PHONG XỨ NGHỆ
Nguyễn Đắc Vinh on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Ngọc Rô on CÒN ĐÂU SÔNG NHUỆ NGÀY XƯA
Giời Ơi on GIA PHONG XỨ NGHỆ
T Nguyen on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Ha Dinh Van on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Muathuhanoi on ĐÔI MẮT LÝ SƠN
Người VN Yêu Nước on CỦA CE’SAR XIN TRẢ LẠI CHO CE’SAR
nguyenvan on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đặng Huy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Nguyên on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Ông Đồ xứ Nghệ on HOÀNG SA LÀ ĐÂU HỞ NGOẠI?
Bác Hồ sống mãi trong sự cay đắng cùa chúng ta! on SỰ NHẦM LẪN LỜI CA “GỬI NGƯỜI EM GÁI MIỀN NAM”
mai ngoc on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Trịnh Công Tiến on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Khách qua đường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Đỗ Duy Văn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hà Văn Thịnh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Tăng Bá Hùng on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
trần cường on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
phạm văn Lâm on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Phan Hoàng on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Hoàng Thiên Thanh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Gia đình Liệt sĩ chống Pháp, chống Mỹ on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
thiên đường XHCN on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Gia Linh on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Trường Sơn on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
D­ương Đại Nghĩa on GỬI THỦ TƯỚNG BA DŨNG
Nguyễn Văn An on KIẾN BÒ ĐI ĐÂU?
Nguyễn Văn An on MINH VƯƠNG
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
ANH NGUYỄN on THƠ XƯA CHƯA CŨ
Biết Tuốt on CHÂN DUNG PHÁC THẢO
Thanh Minh on TUYỆT THỰC
Công Trình on TRƯỜNG SA LÀNG TA
ĐoànhĐoành@ on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Cúc Quỳ hoa on TUYỆT THỰC
Anh Hoa on TUYỆT THỰC
tù nhân lương tâm on TUYỆT THỰC
mai ngoc on TRƯỜNG SA LÀNG TA
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
Trần Hiếu Nghĩa on NHẬT KÝ BÁC SĨ HÓA – 1
kieuhung on TUYỆT THỰC
buncuoiwa on TUYỆT THỰC
Bà Ngoại on PHẠM DUY VÀ TỐ HỮU
Nguyễn Trường Sơn on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Khúc hát sông quê on CÙ HUY HÀ VŨ VÀ CON CHIM XÒE QUẠT
Cùng là người HN on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Văn Đức on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
Hoàng Xuân Thảo on THƠ CHO THIẾU NHI: CHÂN VÀ CÁNH
Hoàng Xuân Thảo on TRÒ ĐÙA NHÂN THẾ
ĐoànhĐoành@ on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Trần Thường Kiệt on ĐÁM TANG TÔN VINH HỒ ĐỨC VIỆT
Trần Thường Kiệt on TRIẾT HỌC CỦA NHÀ LỢN
Cai nuoc minh no the on LỄ TANG ÔNG HỒ ĐỨC VIỆT
Công Luận on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Phạm Lưu Vũ on LIÊN HOAN THƠ TẠI PHÁP
Hoàng Khải on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
truclamthientruongy on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Móng Rồng on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trần Dân Đen on BỌ LẬP THÔNG BÁO
Trương Duy Nhì on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Hiên ngang, sáng ngời.... on ĐÀ NẴNG VẮNG NHẤT
Triời mô xanh bằng trời Can Lộc on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Phạm Hồng Thái on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Người VN Yêu Nước on NỬA NGÀY VỚI TRƯƠNG DUY NHẤT
Hồn Ma Võ Văn Kiệt on NGUYỄN KHOA ĐIỀM: SỰ TẦM THƯỜNG
HTvinh on SẮC DỤC
hát xẩm xứ nghệ on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
Lê Duy Cường on THƠ LÊ TUẤN LỘC
Nhân Văn Giai Phẩm on NGƯỜI MÊ VĂN HỌC BA LAN
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Bùi Mai Hạnh on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
D.Nhật Lệ on TÀI – TAI
3 Dê (tên tục Nguyễn Mười-Tạ Dũng, huý tự Nguyễn Chí Dũng) on PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRỤY?
park gil oung on ÁO LỤA VÀ HOA SEN
Người sông Tiền on VĨNH BIỆT NGƯỜI VỀ SÔNG TƯƠNG
Dương Diệu Minh on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
Phương Xa Ty on THƠ DƯƠNG DIỆU MINH
hát xẩm xứ nghệ on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Văn Đức on HUYỀN BÍ VÂN KIỀU
Lương Dũng Hà on NHẠY CẢM CHÍNH TRỊ
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC THƠ LÊ THÁI SƠN
xuân thơm on TẠI SAO VIỆT NAM?
Tran Kim Phuong on CHUYỆN TẮM TIÊN
Văn Đức on DỊU DÀNG
Bà thành on CHUYỆN TẮM TIÊN
Khách qua đường on GẶP GỠ THÁNG TƯ
mai ngoc on C’EST LA VIE! (*)
Nguyễn Hữu Cường on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
PHƯƠNG NAM on 4 PHÚT TUYỆT VỜI
Bất công on C’EST LA VIE! (*)
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
nguyễn xuân on THƠ BÙI MAI HẠNH
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
Vinh on BÁC SĨ THÚ Y
Nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hát xẩm xứ nghệ on THƠ MỚI CỦA LÊ HUY MẬU
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
nguyễn xuân căn on CHIẾN TRANH
Vũ Đức Thắng on NGUYỄN PHAN HÁCH VÀ TÔI
nobody on CỬA LÒ QUÊ CHA
hội những người ko được giải là đây on CHÙM THƠ PHẠM ĐƯƠNG
V. Đ. on NGẪU HỨNG
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
ChâuDiên on CỬA LÒ QUÊ CHA
Văn Đức on CỬA LÒ QUÊ CHA
phạm hữu đăng đạt on THẾ HỆ TÔI, MỘT THẾ HỆ CÚI ĐẦU
VIỆT HƯNG on CỬA LÒ QUÊ CHA
Người VN Yêu Nước on CỬA LÒ QUÊ CHA
Biển Đen on THỦ PHẠM
Tiến Hùng on THỦ PHẠM
Người VN Yêu Nước on THỦ PHẠM
Dinh Trung on THỦ PHẠM
Phạm Lưu Vũ on THỦ PHẠM
c on NHÂN DÂN
Văn Đức on CHIẾN TRANH
lanh thu on CHIẾN TRANH
vu vơ on CHIẾN TRANH
Lâm Tú on CHIẾN TRANH
Điện Hải 1858 on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Nguyễn Anh Hùng on CHIẾN TRANH
Thái Doãn Táo on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Bùi Thạch Hãn Cựu chiên binh on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
Nguyễn Đức Giang on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
mayhong hồ tây hà nội on NHỮNG CON CHỮ BIỂU TÌNH
FAn của Boi on BẠC MỆNH MỘT TÀI HOA!
Nguyễn Xuân Lai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
nhà thơ Nguyễn Thị Mai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Ước mơ dân chủ công bằng on NGHĨ VỀ TRẢ LỜI VTV CỦA ÔNG NGUYỄN ĐÌNH LỘC
Cu Lon on THƠ MẠC MẠC
VIỆT HƯNG on NGÔN NGỮ MỚI
Bich Khe on NGÔN NGỮ MỚI
Nguyễn Xuân Lai on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Phạm Lưu Vũ on ĐỌC LÀ NIỀM LẠC THÚ
Bà thành on THƠ NGUYỄN XUÂN LAI
Vĩ Trung Ngân on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Đảng ta vĩ đại thật on MỘT BÀI HỌC TỪ PHẠM QUỲNH
108 anh hùng lương sơn bạc on BA SÀM ƠI, NGƯƠI Ở ĐÂU?
108 anh hùng lương sơn bạc on BLOG BA SÀM LẠI BỊ CƯỚP VÀ BỊ XUYÊN TẠC
Nguyễn Đức Tùng on DU TỬ LÊ GIỚI THIỆU TRỊNH SƠN
Phương Xa Ty on THƠ LÂM THỊ HỒNG TÚ
Nguyễn Trường Sơn on CÔNG AN KHÔNG ĐỨNG TRÊN LUẬT